công huân

Loạt phim truyền hình 50 tập nói về những người Trung Quốc được nhận “Cộng hòa quốc Huân chương”, danh hiệu cao quý nhất ở TQ. Cuộc đời mỗi người được viết thành một vài tập phim. Vu Mẫn: người thiết kế bom nguyên tử; Thân Kỷ Lan: chính trị gia, nhà hoạt động nữ quyền; Tôn Gia Đống: chuyên gia thiết kế vệ tinh; Lý Duyên Niên, Trương Phú Thanh: sĩ quan quân đội; Hoàng Húc Hoa: người thiết kế tàu ngầm hạt nhân; Đồ U U: đoạt giải Nobel Y-Sinh, chế tạo thuốc chống sốt rét từ thảo dược; Viên Long Bình: phát triển giống lúa lai, tăng sản lượng lên 10 tấn, rồi 17 tấn/hecta.

Còn có rất nhiều người (như Tiền Học Sâm, Tiền Tam Cường, Đặng Gia Tiên, etc…) thành tích, đóng góp của họ lớn hơn rất nhiều, nhưng đến ngày nay vẫn chưa được tặng Cộng hòa quốc Huân chương này, có lẽ vì thành tích, công lao đã ở mức… không thể đong đếm bằng Huân chương được! Xem những tình tiết trong phim để thấy rằng, họ đã bắt đầu từ một quốc gia đói ăn, lạc hậu, đã đi một chặng đường dài gian khổ đến ngày nay! Ví dụ như Hoàng Húc Hoa đã bắt đầu tính toán, thiết kế tàu ngầm hạt nhân bằng… bàn tính, dùng hàng chục con người ngồi gảy bàn tính!

Đương nhiên nếu cứ gảy bàn tính như thế sẽ mất cả ngàn năm vẫn chưa xong. Nhưng việc gì cũng có… khởi đầu gian nan như vậy! Họ đã bắt tay vào làm rất nhiều việc từ con số không, đôi khi là làm theo kiểu: “kỵ lư trảo mã – 骑驴找马 – cưỡi lừa tìm ngựa”, lừa tuy chậm không thể đuổi kịp ngựa, nhưng có vẫn còn hơn không, vấn đề là có quyết tâm làm hay không! Nhiều câu chuyện, nhiều chi tiết đời sống thực được diễn tả rất sâu sắc và xúc động, ví dụ như Viên Long Bình trong phim có một câu nói giản dị mà lớn lao: tôi sẽ thay đổi thế giới bằng một hạt giống!

Thiên hạ vi công

Đôi khi tôi nghĩ, thế mạnh của Trung Quốc xuyên suốt các giai đoạn lịch sử là có một thế lực có thể đối chọi lại sức mạnh của tiền bạc. Tiền bạc dĩ nhiên là có vai trò quan trọng của nó, nhưng cũng luôn có mặt trái, nếu để nó khuynh loát, lũng đoạn xã hội thì hậu quả không lường hết được. Như thời phong kiến thì Nho giáo của Khổng tử được dùng để định hướng, kìm chế từ phương diện tư tưởng, luân lý cho đến định chế xã hội. Đến thời hiện đại thì đó là CNXH mang màu sắc TQ! Nói cho đúng thì, chỉ cần 4 chữ: “Thiên hạ vi công – 天下為公” trong Lễ ký là đủ xác lập lý luận của CNXH rồi!

Bất luận gọi tên là gì, là chủ nghĩa này, là chủ nghĩa kia không mấy quan trọng, quan trọng là sự thể hiện ý chí con người, muốn vươn lên kiểm soát những “mặt trái”, để hướng xã hội tới những điều tốt đẹp hơn. Những nỗ lực cải cách xã hội của Trung Quốc là vô cùng sâu rộng, bền bỉ. Đương nhiên, bản thân chính cái “mặt phải” cũng có những… “mặt trái” của riêng nó. Ví dụ Nho giáo phát triển cực thịnh thời Tống với Lý học, rồi suy bại dần ở các thời đại sau, quá trình suy đồi này thể hiện rất rõ qua tác phẩm Nho lâm ngoại sử (đã được dịch sang tiếng Việt dưới tựa đề Chuyện làng Nho).

Và tuy thi cử cũng có những “mặt trái” của nó, nhưng ít ra muốn trở thành công chức Trung Quốc là cũng phải “ôn thi” vô số kiến thức: luật, logic, toán, lý, sinh, lý luận chính trị… tỷ lệ chọi cao kinh khủng: 1 – 100. Nếu đống kiến thức này được đào luyện cho sâu sắc, cho kỹ càng thì cũng tuyển được người tương đối có chất lượng chứ không đùa. Nếu quả thực, học hành mà chữ dính được vào đầu, thì đương nhiên sẽ hiểu ra được rất nhiều chuyện, đã không dẫn đến việc suốt ngày ngồi nghĩ ra một mớ ngôn từ nhiễu sự, nhảm nhí, không có nội dung thực chất gì như Việt Nam hiện tại!

nhân gian yên hỏa

Vài năm trước, Trung Quốc có một đợt tuyên truyền phòng chống thiên tai, nhân tai… Lệnh trên truyền xuống, thế là các diễn viên từ Trương Tịnh Nghi, Trương Tuệ Văn, Vương Sở Nhiên, Mã Tư Thuần, và nhiều người khác đều đôn đáo chạy đi… đóng phim: Hỏa diễm lam, Anh ấy bước ra từ ánh lửa, Khói lửa nhân gian của tôi, Em là thành trì doanh lũy của anh .v.v… Đa số đều là những phim khá hay, dù một số người sẽ có chỗ không thích vì chúng… nặng tính tuyên truyền. Các motif lặp đi lặp lại trong những phim này rất dễ thấy: con người chúng ta là khác biệt, ngành nghề là khác biệt, và xã hội vận động, phát triển được chính là nhờ sự khác biệt.

Vừa vào đầu phim là đạo diễn đã bắt phải hô khẩu hiệu rồi: “Đao sơn cảm thượng, Hỏa hải cảm sấm, Triệu chi tức lai – 刀山敢上火海敢闯召之即来“… nôm na tức là: “Dám lên núi đao, Dám vào biển lửa, Cứ gọi là đến…” Haiza, đương nhiên đây cũng chỉ là khẩu hiệu thôi, nhưng cũng nói lên được rất nhiều điều. Ở Việt Nam, “cứ gọi là đến” thì chỉ có 2 loại thôi, một là taxi, và hai… là gái! Cả xã hội khinh thường, không ai muốn làm cái nghề được xem là trâu bò, luôn phải xông pha “núi đao, biển lửa” này. Các phim đều lặp lại thông điệp rằng: dù “cứ gọi là đến”, nhưng nguồn lực công ích “miễn phí” này cần phải sử dụng một cách cân nhắc, thận trọng!

Khi tai họa xảy ra (hoả hoạn, động đất…) phần lớn trường hợp không thể vận chuyển nạn nhân tới bệnh viện kịp thời. Do đó cần thành lập các đội cứu hộ, cứu nạn liên hợp, đa ngành: những người lính làm nhiệm vụ cứu hộ, các y bác sĩ làm nhiệm vụ sơ cấp cứu tại hiện trường. Và thế là xuất hiện những chuyện tình lãng mạn bên trong các đội nhóm này, đơn giản vì người ta thích cái mình không có, các anh lính cứu hộ không có kỹ năng y tế, còn các y bác sĩ thì không đủ sức mạnh đảm đương công việc nguy hiểm. Ngay trong từng nhóm ngành nghề riêng biệt, con người cũng không giống nhau, đều có cách suy nghĩ khác biệt!

Cùng là 2 sĩ quan cứu hỏa, một người thì chú trọng rèn luyện kỹ năng, thể lực để xông pha chiến đấu với ngọn lửa, người còn lại thì chủ trương: sức chịu đựng của con người có hạn, cần phát triển, ứng dụng các công nghệ mới nhằm hỗ trợ cho việc cứu hộ cứu nạn được hiệu quả, an toàn. Hai người này thường xuyên mâu thuẫn với nhau, nhưng thực chất cả hai đều là những nhân vật không thể thiếu trong đội cứu hộ… Đều là 2 bác sĩ học chung với nhau, một người về mặt học hành, nghiên cứu giỏi giang hơn, nhưng người kia được các thầy cô đánh giá cao hơn, vì có sự nhiệt tình, tận tụy với bệnh nhân, mà đây là điểm trọng yếu của ngành Y.

Cả hai đều được gởi tới… Khoa cấp cứu, đây thường không phải là khoa có học thuật cao nhất trong một bệnh viện, công việc căng thẳng, vừa phải đối phó với bệnh nhân lẫn người nhà, đủ các loại người khác nhau từ tử tế cho tới lưu manh, tội phạm. Thời gian ở Khoa cấp cứu, họ học được cách áp dụng kiến thức, cách xử lý các tình huống, và cả cách để đối xử với đủ loại người khác nhau này. Sau đó, các thầy cô mới rút 2 người này về các Chuyên khoa để tiếp tục phát triển chuyên môn, xem đó như một thời gian rèn luyện! Sự khác biệt giữa các ngành nghề, giữa con người với nhau… là không cách nào nói cho tường tận được.

Tuy rằng đều gọi là: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, etc… nhưng mỗi ngành nghề mỗi khác, mỗi lĩnh vực đều có những quy chuẩn riêng sinh ra từ thực tế cuộc sống. Và ngay cả trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, cũng luôn có nhiều phương hướng không thể trực tiếp so sánh được với nhau! Những thang giá trị không thể trực tiếp so sánh với nhau, đó chính là cách xã hội vận hành, là cách con người tồn tại qua muôn ngàn biến động! Chỉ có thiển cận mới nghĩ rằng tất cả đều có thể quy về một “barème” chung để tự thoả mãn cái tính cạnh khóe hơn người của mình. Người Việt vẫn luôn có cái gì đó thực sự vô cùng bất ổn trong cái so đo này!

Hạ Vũ

Vài năm trước, trên Wikipedia tiếng Việt có một “cuộc chiến sửa đổi” dữ dội, các bên tranh nhau sửa nội dung theo ý mình: mục Hạ Vũ, vị “hoàng đế” đầu tiên của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Giai đoạn này, dân tộc Hoa Hạ có dân số ước tính khoảng 2.5 ~ 4 triệu người, sống quanh đồng bằng sông Vị, sông Hoài, Hoàng hà! Chưa hình thành chế độ phong kiến tập trung mà mới chỉ là nhiều thị tộc tìm cách liên minh lại với nhau để hợp sức… trị thủy! Vì dân cư sống định cư với hình thức canh tác nông nghiệp, mà lũ lụt hàng năm tàn phá mùa màng! Lúc này tên nhân vật lịch sử chỉ đơn giản gồm 1 hoặc 2 chữ: Vũ, Cổn .v.v… vì xã hội còn chưa có họ.

Cổn theo lệnh của Nghiêu làm công tác trị thủy suốt 9 năm, be bờ đắp đập, xây dựng các tuyến đê lớn, nhưng cuối cùng thất bại, không khống chế được dòng nước lũ. Vì lý do đó, Nghiêu giết Cổn, và sai con của Cổn là Vũ tiếp tục sự nghiệp trị thủy. Vũ làm việc liên tục suốt 13 năm, đào nhiều kênh giúp phân tán, giảm bớt sức mạnh của dòng nước lũ, nhờ đó mà trị thủy thành công. Ở một thời đại còn chưa có chữ viết, nhưng người TQ đã tổ chức làm những công trình vĩ đại, với tinh thần trách nhiệm lớn lao, làm không được việc là sẽ có vài án tử rơi xuống, phải có ai đó chịu trách nhiệm, không có chuyện “trách nhiệm suông” được!

Theo Sử ký, Thuấn đã “thiện nhượng” – truyền ngôi cho người trị thủy thành công là Vũ. Nhưng ngày nay, qua những nguồn tư liệu khác, chúng ta biết Vũ đã ép Thuấn phải nhượng vị, đơn giản là người chỉ huy đại công trình trị thủy tức là nắm trong tay quyền huy động nhân lực / vật chất lớn nhất quốc gia. Bài học rút ra là: đắp đê tuy vẫn cần thiết ở một vài khu vực xung yếu, nhưng căn bản không giải quyết được vấn đề. Để trị thủy thành công, cần tạo ra nhiều chỗ trống để chứa nước, cần có các kênh rạch giúp dòng nước mau chóng phân tán, thoát ra biển. Đó là cách đây khoảng 4300 năm, người ta đã làm được những việc như vậy!

4300 năm sau, ở cái xứ Vịt kia, rất nhiều người vẫn chưa thể hiểu / nói cho cho đúng đắn! Chuyện rất đơn giản trên nguyên lý: cái chén dùng được là nhớ có chỗ trống bên trong để chứa nước, cái cửa dùng được là nhờ có chỗ trống bên trong cho người đi qua, cái thuyền dùng được là vì bên trong nó trống rỗng nên mới nổi trên mặt nước. Muôn vật dùng được là nhờ đến… “tính không”! Một xã hội toàn những “cái tôi” quá lớn, vừa to lớn vật vã, vừa méo mó đến mức biến dạng, ai cũng cố lấn ra một chút, ai cũng cố dành thêm một chút về phần mình, rút cuộc chiếm dụng hết sự “không”, thế rồi tự mình hại mình, tự biến thành nơi không ai sống được!

vi tích phân, p2

SGK VN có một cái bệnh là chỉ toàn công thức, gần như không có một lời giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ tự nhiên” nào. Đưa ra một mớ công thức, định lý, hệ quả theo kiểu … kiến thức chết mà không đưa ra được ví dụ để làm rõ chúng rút cuộc có ý nghĩa gì? Thế rồi, thảy ra một đống bài tập, đẩy học sinh vào trò chơi “ký hiệu, biểu tượng” hoàn toàn chỉ mang tính chất đánh đố, vô hồn, vô nghĩa. Có lần tôi đọc một cuốn Giải tích tiếng Anh rất hay, hơn 500 trang khổ lớn (lớn hơn khổ A4). Mỗi khi đưa ra một công thức, định nghĩa, họ đều đưa ra vô số ví dụ minh họa!

Họ tìm cách giải thích bằng “bạch văn – ngôn ngữ phổ thông của cuộc sống hàng ngày”: ví dụ, dẫn chứng từ thế giới thực, các câu chuyện lịch sử, thông tin “bên lề”, hình ảnh, biểu đồ, nhiều đến mức HS không thể đọc hết. Nếu chỉ để hiểu những điểm cốt yếu, hay để đi thi, thì chỉ cần đọc một số trang nhất định! Phần thông tin thêm, lớn hơn nhiều lần, là dành cho những cho những ai thực sự muốn hiểu sâu! Phần này, e là đến chính người viết SGK VN, chứ chưa nói giáo viên, còn chưa hiểu tường tận! Hệ quả là: đi thi thì được, nhưng làm thật lại… không được!

Cách trình bày thuần túy Toán học, toàn công thức… chỉ dùng được với những người đã có kinh nghiệm làm Toán lâu năm, không phù hợp với HS cấp phổ thông (thậm chí là cả cấp ĐH). Một công thức Toán có thể rất ngắn gọn, nhưng ý nghĩa và tính áp dụng thực tế của nó thì… thiên hình vạn trạng. Cách dạy Toán theo kiểu thuần túy công thức là chỉ phù hợp để… đi thi mà thôi! Muốn kiến thức đó trở nên hữu ích trong cuộc sống, đi vào thực tiễn nghiên cứu, sản xuất… thì đầu tiên phải nhìn cuộc sống thực theo cách đa chiều, muôn màu muôn vẻ đã!

Cũng như học võ vậy, cơ bản gồm 2 phần: “Hình – 形 – kata – các bài quyền” và “Phân giải – 分解 – Bunkai – ứng dụng thực tế”. Hình là một tập hợp các động tác có tính trừu tượng cao, có quá trình phát triển rất lâu đời nên uyên áo, khó hiểu, còn Phân giải là muôn ngàn cách biến hóa, triển khai, ứng dụng Hình vào trong thực tế chiến đấu! Mà Võ học (cũng như Toán) không phải chỉ bao gồm có Hình & Phân giải! Trừ khi bạn đi theo ngành Toán lý thuyết thuần túy, còn đa số chúng ta, nếu chỉ học các bài quyền thì vẫn mới chỉ là làm màu, chưa phải là học võ thực sự!

Nên không phải là Toán cao cấp không có ích, không cần thiết trong cuộc sống, nghiên cứu, sản xuất, etc… Vấn đề là bản thân người làm SGK, người và học Toán vẫn còn đang ở một trình độ… chưa thể hiểu hết ý nghĩa, khả năng biến hóa và tính ứng dụng thực tiễn của nó, và do đó, còn xem nó là vô dụng, là kiến thức chết! Thêm nữa, yêu cầu của cuộc sống, của kinh tế, sản xuất chỉ mới ở mức cộng trừ nhân chia, sơ khai đơn giản, chỉ một cái bảng tính Excel là đã đáp ứng đủ tất cả yêu cầu, còn chưa cần dùng đến Toán cao cấp!

Để sửa cách dạy và học Toán này không phải bắt đầu từ Toán, mà phải bắt đầu từ… Văn và Sử! Đa số người Việt, ngoài miệng thì hoa ngôn xảo ngữ, nhưng kỳ thực là che giấu bệnh “sợ chữ”, không đọc nổi một đoạn văn 10 dòng, hay cũng có đọc nhưng lười, không suy nghĩ sâu xa! Đầu tiên phải có chút công phu đọc hiểu, tìm tòi đã, không tìm tòi thì làm sao hiểu được: Toán chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những nỗ lực giải quyết các vấn đề thực của cuộc sống! Đào bới lại lịch sử, nhìn lại những gì nhân loại đã làm… là tự khắc sẽ hiểu rõ thôi!

vi tích phân, p1

Có một vài nguyên nhân khiến cho việc học Vi tích phân trở nên “khó nhằn”. Đầu tiên là từ nguyên: “nguyên hàm – hàm nguyên gốc” và “đạo hàm – hàm dẫn hướng – 导函“! Chữ “đạo – 导” ở đây nghĩa là chỉ đường, dẫn hướng (tiếng Trung hiện đại dùng chữ “đạo hàng – 导航” để chỉ khái niệm định hướng, tìm đường – navigation). Giải thích cho HS tại sao vận tốc lại là hàm “chỉ hướng” của quãng đường, gia tốc là “chỉ hướng” của vận tốc, có thể dùng ví dụ trực quan là “vector tiếp tuyến”. Hay là dùng luôn chữ “hướng lượng – 向量” để chỉ khái niệm “vector” cho nó đồng bộ!?

Đồng thời cũng giải thích cho HS hiểu vì sao quá trình từ “nguyên hàm” tính ra “đạo hàm” lại gọi là “vi phân”. Chữ “phân” ở đây có thể hiểu là phân tích, cũng tạm hiểu là phân chia, là cách nói gọn của “Giải tích – phân tích – analysis”! Vì sao quá trình ngược lại, từ “đạo hàm” ra “nguyên hàm” gọi là “tích phân – tính tổng”. Tôi dám cá nhiều HS còn chưa hiểu tại sao tích chính là tổng, phép cộng nhiều lần chính là phép nhân! Nên chăng phải có một chương “dẫn nhập”, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ, các lĩnh vực của ngành Giải tích…

Và giới thiệu sơ lược lịch sử của Giải tích: Newton, Fourier đã tìm cách giải bài toán Dự đoán thủy triều thế nào? Máy tính cơ học dùng để tính tích phân đã được chế tạo ra sao? Tại sao lịch sử vi tích phân lại quy về 2 người là Newton và Leibniz!? Tôi nghĩ, cách tốt nhất để học Toán phổ thông chính là học “Lịch sử Toán”, học để biết cả một quá trình phát triển! Cũng tương tự, cách tốt nhất để học Văn chính là học… Văn học sử: học Nguyễn Du thì ít nhất cũng nên biết sơ qua ông ta thân thế làm sao, sống trong bối cảnh thế nào!?

Khối lượng kiến thức “bên lề” này là… bao la, rộng hơn rất nhiều so với phần được trình bày trong SGK, nhiều điều ngay cả giáo viên giảng dạy còn chưa biết đến! Ngày xưa đi học, tôi sợ nhất là bản thân nổi hứng trích dẫn vài câu thơ “lạ lạ”, khả năng cao là sẽ bị phê: “Lạc đề”, cho 2, 3 điểm! Nói không phải chứ tôi biết rất rõ, ngoại trừ một vài trường hợp, phần lớn giáo viên Văn cũng chẳng biết được bao nhiêu văn, họ chỉ dò câu chữ xem học sinh có làm đúng “đáp án” hay không, chứ không có khả năng hiểu, bình phẩm và tán thưởng những ý tưởng mới lạ!

Hệ thống kiến thức là phát triển tuần tự theo dòng thời gian, và có lịch sử phát triển đôi khi còn phức tạp hơn cả bản thân kiến thức đó! Không thể chấp nhận kiến thức theo kiểu “từ trên trời rơi xuống”! Học theo kiểu “từ trên trời rơi xuống” rồi sẽ sinh ra những loại người… “từ trên trời rơi xuống” mà thôi! Vấn đề kế là đừng sa đà vào công thức và bài tập khô khan! Ngay từ các khái niệm gốc, sử dụng nhiều ví dụ minh họa để HS hiểu rõ chúng có ý nghĩa gì trong thực tế, dùng để giải quyết những vấn đề thiết thực nào trong cuộc sống.

Vội vàng đi sâu vào các bài toán trừu tượng và phức tạp mà không giải thích rõ ràng những khái niệm cơ bản ngay từ gốc, không hiểu các kiến thức đó dùng để làm gì thì cũng giống như tự cưa cành cây mình đang ngồi trên đó vậy, cũng như học đủ các chiêu thức võ công, cái gì cũng biết mà… đứng tấn không vững vậy! Sau đó, còn không hiểu nữa thì chỉ có thể đổ lỗi cho… cái tính nó “đoản – đoảng – ngắn” vậy thôi, ưa vung vít những chuyện tào lao trên trời dưới đất, nhưng không chịu hiểu những điều sơ đẳng, thiết thực!

thôi kỷ cập nhân

Ngữ nghĩa trong phim Trung Quốc đôi khi rất thú vị… Hai người bạn cấp 3, một nam một nữ ngồi uống với nhau vài lon bia, những lon bia “hợp pháp” đầu tiên sau tốt nghiệp! Bên trong từ lâu đã có tình ý, nhưng ngoài mặt vẫn đóng vai “anh em, huynh đệ”: Cậu xem, sau này thành công rồi nhớ chiếu cố đến tớ nhé! Người kia đáp: Yên tâm, sau này, chỉ cần tớ có bát cơm để ăn thì cậu sẽ có bát để… rửa! Nghe là biết tỏng kịch bản phim rồi, đây chính là câu để nói với… ông chồng tương lai ngày ngày rửa bát cho vợ!

以己度人 – 推己及人 – hai thành ngữ này hơi khó dịch ra tiếng Việt, “Dĩ kỷ độ nhân – 以己度人” có thể dịch là “suy bụng ta ra bụng người”, cũng hiểu là: “dùng tiêu chuẩn của bản thân bắt người khác phải thấp như mình”, nhưng “Thôi kỷ cập nhân – 推己及人” thì phải hiểu là: “thúc đẩy bản thân cho cao bằng (tiêu chuẩn của) người khác”, đây là 2 cách diễn đạt, 2 ý tứ hoàn toàn khác biệt! Trong nguyên bản thì mỗi thành ngữ đều 4 chữ, nhưng dịch trọn vẹn ý nghĩa ra tiếng Việt thì lại rất dài dòng!

điện khí hóa

Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ trong rất nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực có liên quan đến điện: tàu điện cao tốc, điện mặt trời, điện gió, truyền tải điện một chiều trên khoảng cách xa, các loại động cơ điện tiên tiến, máy phóng điện từ trên tàu sân bay, các loại pin tích năng, etc… Về các loại xe động cơ đốt trong, dù Trung Quốc hoàn toàn có thể chế tạo ra những chiếc xe hơi tốt, nhưng chắc chắn không thể thương mại hóa nó thành công! Vì lĩnh vực động cơ nổ trên xe bị… kiểm soát hoàn toàn bởi phương Tây thông qua hàng trăm ngàn patent (bằng phát minh sáng chế). Dù có sản xuất được xe tốt thì cũng chỉ bán qua được những nước kém phát triển, nơi không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, mà những dạng thị trường này thì lại chẳng đáng bao nhiêu.

Nên họ phải tìm ra một nhánh thị trường mới để vươn lên, đó là xe điện (và các phương tiện dùng điện khác), thực sự vươn lên chiếm lĩnh bằng cách đăng ký hàng trăm ngàn patent, tìm cách đi trước phương Tây! Nên mới nói, khoa học, kỹ thuật chẳng qua cũng chỉ là cách để đào tạo, thay đổi con người & xã hội, cơ bản từ gốc là do người có muốn thay đổi hay không mà thôi, không có công nghệ này, ta có thể tìm công nghệ khác! Kể từ lúc Tesla tranh luận với Edison về điện một chiều và xoay chiều đến nay đã hơn 120 năm, nhưng tiến bộ nhân loại đạt được nhờ điện vẫn xem như… chỉ mới bắt đầu! Câu nói của Lê-nin: “Chủ nghĩa Cộng sản = Chính quyền Xô-viết + Điện khí hóa” vẫn còn ý nghĩa, hơn nữa từ công thức đó ta có thể suy ra: Chính quyền Xô-viết = CNCS – Điện khí hóa!!! :D :D

triều Minh dưới kính hiển vi

Hiển vi kính hạ đích Đại Minh – triều Minh dưới kính hiển vi, là một bộ phim lấy chủ đề… Toán học! Triều Minh, thoạt nhìn thì là một triều đại “ổn định, thịnh trị”, nhưng bên trong lại có vô số vấn đề “nho nhỏ” về mâu thuẫn lợi ích và thủ đoạn chính trị! Soái Gia Mặc, ngay từ nhỏ đã là một thiên tài toán học, tính tình có chút cá biệt, suốt đời bị ám ảnh bởi các con số. Anh đã dùng kỹ năng Toán của mình để kiểm tra, hiệu đính các vấn đề đo đạc ruộng đất, tính toán thuế khóa, tham gia giải quyết nhiều vụ án chấn động đương thời. Phim quy tụ nhiều diễn viên thực lực, diễn xuất ấn tượng! Đó là triều Minh, hơn 600 năm về trước, bây giờ ta hãy quay lại VN của ngày nay…

Giả sử bạn đi vay nóng 20 triệu, người cho vay sẽ “cắt phế” 2tr, chỉ đưa bạn 18tr! “Cắt phế” là dùng đúng từ của đám cho vay nặng lãi hiện nay, xem như đã lấy trước phần lãi 10%, một tháng sau phải trả đủ 20 triệu! Cái “cắt phế” này là hoàn toàn sai, vì thực ra bạn chỉ vay có 18 triệu mà thôi, nếu lãi suất 10% thì sau một tháng, bạn chỉ phải trả 19.8 triệu, nếu nhân lên nhiều tháng (lãi mẹ đẻ lãi con) sẽ là một khác biệt rất lớn! Đây là một tình tiết ngay tập đầu phim, chỉ bằng các tính toán sơ đẳng có thể thấy đám cho vay nặng lãi đã gian manh như thế nào! Ấy thế mà ở Việt Nam, hơn 600 năm sau, dân trí vẫn còn đang ở mức không thể nói cho đúng đắn được!

hữu sở vi, hữu sở bất vi

Dân trí, đó không phải là “trí”, mà là… “tâm”! Không phải làm được điều gì, mà là… không làm những gì! Quân tử hữu sở vi, hữu sở bất vi… 君子有所为有所不为 – người quân tử có chuyện cần phải làm, có chuyện không được làm. Nôm na tức là nếu không loại trừ được những thành phần lưu manh, phá hoại, đĩ điếm… thì có làm được bao nhiêu cũng “của thiên trả địa” mà thôi. Có những loại suốt đời chỉ âm mưu phá hoại, muốn ăn mà không muốn làm, những loại này nếu không kìm hãm, loại trừ thì cả xã hội sẽ khốn khổ vì chúng! Em xem phim cổ trang Trung Quốc đủ nhiều để biết rằng: dân trí của xã hội sẽ phát triển qua rất nhiều giai đoạn khác nhau!

Giai đoạn đầu tiên chính là đấu đá, đâm chém nhau để dành ăn, dành lợi, trắng trợn không kiêng dè! Giai đoạn thứ nhì là âm mưu: hạ độc, dàn cảnh, gài bẫy, đặt điều, vu vạ. Sau những giai đoạn “sơ khai” đó mới dần tiến đến có ý thức về hành động của mình, dần trở nên “biết người, biết ta”, biết kìm “cái tôi” lại, bớt dần những chuyện lưu manh vặt vãnh, rồi dần biết tôn trọng người khác, tìm cách hợp tác phát triển. Cái “biết người biết ta” này, nói đơn giản như vậy, nhưng không biết phải mấy trăm năm nữa mới làm được!? Rồi dần trở mới nên thông minh hơn, nhìn rõ được bản thân, thấy được thế giới xung quanh như thế nào mà tính chuyện lâu dài hơn!

Văn hóa VN như hiện tại, chỉ mới đang ở giai đoạn 2 đã nói ở trên! Có vô số thành phần lưu manh tìm cách hạ độc người khác, bỏ độc vào đồ ăn thức uống, tìm cách bỏ thuốc kích thích, hay các loại hóa chất, tìm cách làm ô nhiễm không gian bằng âm thanh và bằng đủ thứ rác rưởi khác! Nhưng điều này đều hoàn toàn hiểu theo nghĩa đen chứ chẳng phải nghĩa bóng, ám chỉ, phiếm chỉ gì! Tôi đoán rằng, trong nhiều năm tới, rất cần tăng cường quản lý an toàn thực phẩm, dược phẩm, tăng cường năng lực xét nghiệm hóa chất, kiểm định môi trường… Đây không phải là “miệt thị dân tộc” đâu, chính là dân trí chỉ mới ở giai đoạn mông muội như vậy mà thôi!