tàu hơi nước

Tàu hơi nước có một lịch sử phát triển rất lâu dài và phức tạp, Pyroscaphe có thể xem là tàu hơi nước đầu tiên, đóng ở Pháp năm 1783 như một sự thử nghiệm ý tưởng, tàu chạy được một lúc nhưng sau đó thân thuyền bị nứt và máy bị xì hơi. Cả Anh và Pháp đều tích cực thử nghiệm phát triển tàu hơi nước nhưng mãi đến năm 1813 thì người Anh mới đóng được chiếc Experiment, được xem là tàu hơi nước đi biển đầu tiên, dù mới chỉ đi một đoạn ngắn. Tiếp sau đó, xuất hiện nhiều tàu hơi nước đi xuyên Đại Tây Dương, nhưng chủ yếu vẫn đi buồm, phần đi bằng động cơ hơi nước còn ít, và mãi đến 1838 thì chiếc SS Great Western mới chính thức được xem là tàu hơi nước xuyên Đại Tây Dương thật sự.

Nên viết: Gia Long có trong tay mấy chiếc tàu chạy bằng hơi nước mua của người Pháp từ lúc còn tranh hùng với nhà Tây Sơn là hoàn toàn nhảm nhí! Gia Long thắng nhà Tây Sơn, và lên ngôi năm 1802, lúc đó thì thế giới còn chưa biết tàu hơi nước là gì, mới chỉ là một vài thử nghiệm lẻ tẻ ở Anh và Pháp. Lại viết: năm 1838, vua Minh Mạng chỉ thị cho Võ khố bắt chước tàu hơi nước của Tây Dương cũng là láo toét, lúc đó tuy châu Âu và bắc Mỹ là đã có tàu hơi nước, nhưng phần còn lại của thế giới, cả Trung Quốc, Việt Nam còn chưa nhìn thấy tàu hơi nước bao giờ, vì tàu hơi nước dùng than đá làm nhiên liệu, và lúc đó chưa có những trạm cung ứng than rải rác khắp nơi để tàu có thể hoạt động toàn cầu!

Sự bịa đặt vô lý đến mức, tại thời điểm năm 1838, có thể khẳng định chắc chắn là: khắp cả phần phía Đông của quả địa cầu chưa nhìn thấy một con tàu hơi nước bao giờ. Thực vậy, con tàu hơi nước phương Tây đầu tiên đến Singapore là chiếc Lady Mary Wood vào năm 1845, và năm sau đó, 1846 thì tàu này đến Thượng Hải, là con tàu hơi nước đầu tiên đến TQ! Còn chưa làm được đinh ốc, đinh vít mà nói phét chế tạo tàu và động cơ hơi nước! Có những thể loại suốt ngày vẽ rắn thêm chân những chuyện láo toét, huyễn hoặc, xàm xí, không biết là với ý đồ gì!? Đây chính là kiểu “sử gia – giả sư”… đào lên không thấy gì cả nên kết luận… tổ tiên chúng ta đã xài mạng không dây, nhăng cuội, trân tráo đến mức không biết ngượng!

Và như ta thường thấy, với những thể loại trí thức giả cầy cùng những kiểu lưu manh khác, thủ thuật chung chính là: đảo lộn trình tự sự việc, xáo trộn trật tự thời gian, sắp xếp lại các quan hệ nhân – quả theo cách chúng nó muốn! Cuộc sống, cũng như lịch sử, vốn dĩ là một chuỗi sự kiện rất phức tạp theo dòng thời gian, có cái này mới có cái kia! Đương sơ, có thể chỉ là do đầu óc bị một khiếm khuyết nào đó khiến cho họ không nhận ra được những chuỗi nhân – quả này, nhưng suốt một quá trình dài bị cái tâm vọng động sai khiến, làm cho họ chỉ muốn nhìn nhận sự việc theo cách họ muốn thấy mà thôi. Và đến sau nữa thì phát triển thành những thủ thuật thiểu năng, nhăng cuội, xàm xí chỉ cốt để đi lừa bịp người khác!

Loại như thế rất dễ nhận biết: suy nghĩ rất công thức, máy móc, phát ngôn mang tính chất phản xạ nhất thời, không chịu lùi lại một bước suy nghĩ cho kỹ, bởi vì “ta đúng, ta hơn người” là động cơ thôi thúc cao nhất! Đặc điểm thứ hai là: ít vận động, thể chất yếu ớt, không hiểu cách thế giới vật lý vận hành, chỉ ưa ngồi một chỗ suy diễn nhảm, và rất thường là… suy diễn sai! Đặc điểm thứ ba là: rất thiếu nhạy cảm, khả năng thông hiểu, đồng cảm với người khác kém, đời sống EQ rất có vấn đề, không phân biệt được nhạc hay, nhạc dở mặc dù cũng cố làm ra vẻ này nọ! Vì sao phải nói nhiều như vậy, vì một bộ phận rất rất lớn người Việt là như thế, thâm căn cố đế, cái “dân tộc tính” đó không sửa được sẽ cản trở phát triển!

uscgc mellon

Thế là Mỹ đã chuyển giao cho VN 3 con tàu Tuần duyên cũ, một chiếc hạ thủy năm… 1968, một chiếc hạ thủy năm 1969, và một chiếc năm 1972, như vậy 3 con tàu đó đã… 57, 56 và 53 tuổi, hai chiếc già hơn (USCGC Mellon và USCGC Morgenthau) thực sự đã từng tham chiến ở Việt Nam những năm 1968 ~ 1972! Theo các ước tính trong hàng hải, một con tàu đến 40 tuổi được xem là đã rất thành công, sau khi hạ thủy và đưa vào sử dụng khoảng 20 năm, sẽ có một lần “mid-life upgrade – nâng cấp giữa đời”!

Tức là được trông đợi là sẽ phục vụ tiếp nửa phần đời còn lại, thêm 20 năm nữa cho đủ 40 năm. Hơn 50 tuổi đối với một con tàu đã có thể xem là “cổ lai hy – xưa nay hiếm”, dù Nga có một con tàu đã 110 tuổi vẫn còn hoạt động trong biên chế, nhưng đây là ngoại lệ vô cùng hiếm hoi. Ở nhiều nơi khác thì những con tàu này đã bị biến thành… bia tập bắn từ lâu! Điều gì khiến cho những con tàu của họ 60 năm vẫn còn xài được, còn tàu chúng ta đóng ra mới chỉ có vài năm đã xập xệ, xuống cấp, liên tục sửa chữa!?

duy tân

Sau khi đội tàu của Đề đốc Matthew Perry đến Nhật Bản, trước một màn phô trương sức mạnh quá thuyết phục như vậy: những con tàu hơi nước hiện đại, những khẩu pháo Paixhans khổng lồ, chính quyền Tokugawa bị “thuyết phục” hoàn toàn và phải ký các hiệp ước mở cửa nước Nhật ra giao thương với thế giới sau hơn 200 năm khép kín. Matthew C. Perry là một người khéo léo, ông ta tặng người Nhật những khẩu súng lục Colt biệt danh: the peacemaker – người kiến tạo hòa bình, và cũng tặng kèm những động cơ hơi nước nhỏ mang tính trình diễn. Dù vẫn còn phải đánh nhau thêm vài trận nhỏ nữa (Boshin war) để dẹp hoàn toàn các thế lực cản đường trước khi chuyển sang thời Minh Trị duy tân, nhưng ngay lúc đó, người Nhật bắt tay vào những công việc cụ thể để canh tân đất nước.

Một trung tâm huấn luyện hàng hải được dựng lên bên cạnh Dejima, hòn đảo giao thương với người Hà Lan cũ, Tanaka Hisashige được giao nhiệm vụ phát triển các thiết bị điện tín (telegraph), công ty của ông ta sau về trở thành tập đoàn Toshiba lừng danh, và chỉ 2 năm sau thì họ chế tạo thành công động cơ hơi nước đầu tiên, tuy vẫn có một số khiếm khuyết nhưng chạy được. Về cái “nghi án” VN đã chế tạo thành công tàu thủy động cơ hơi nước dưới thời Nguyễn, tôi nghĩ cần phải nói thẳng đây là trò bịp bợm! Sự thực là nhà Nguyễn đã có mua vài chiếc tàu hơi nước nhỏ, nhưng mới dùng được thời gian thì hỏng, không tự sửa chữa được đành xếp xó! Ở VN cũng có người nhận rõ sự cần thiết phải Duy tân, ví dụ như Nguyễn Trường Tộ, ông ta… chăm chỉ viết điều trần gởi lên triều đình!

Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết… Nếu đọc kỹ Nguyễn Trường Tộ, ta sẽ thấy tư tưởng rõ ràng là có chút tiến bộ, nhưng lời văn vẫn kiểu mắc vào “cái tôi”, loay hoay không giải thích được Duy tân phải bắt đầu từ đâu! Quả thực như vậy, suốt cuộc đời ông ta chăm chỉ viết điều trần, viết đến gần 100 bản, nói thì dông dài quá nhiều nhưng chưa bao giờ thấy động tay chân làm điều gì! Có vẻ như là đã tận lực, đã cố hết sức rồi, nhưng toàn bộ những gì “làm” được chỉ là một mớ ngôn từ bùng nhùng, mơ hồ như thế! Như vậy phải coi lại sức khỏe thế chất, vật lý có vấn đề gì không, có bị khuyết tật chỗ nào hay không, chứ sao cái “dân tộc tính” đến tận ngày nay, mãi vẫn chỉ có nói mà không có làm như thế!?

rangaku

Sau khi tiến hành chiến tranh thống nhất Nhật Bản thành công, Tokugawa Ieyasu nhận được sự chấp thuận của Nhật hoàng để trở thành Shogun – Tướng quân, người cai quản nước Nhật trên thực tế. Xem những thư từ trao đổi giữa chúa Nguyễn (VN) và Tokugawa Ieyasu (Nhật) sẽ thấy một cái giọng điệu rất buồn cười, ai cũng cố tình lờ đi các vị Hoàng đế trên danh nghĩa (Nhật hoàng và vua Lê), cố tình đề cao địa vị “chúa tể” trong thực tế của mình, nhưng cả 2 con dấu đỏ trong các thư từ thì đều chỉ là “Tổng trấn tướng quân” như nhau cả. Và cũng hệt như ở VN (nhưng là ở một thời đại 200 năm trước đó), sau khi đã thống nhất đất nước, “Thố tử cẩu phanh, Điểu tận cung tàng兎死狗烹鸟尽弓藏“, Tokugawa Ieyasu đã tiến hành một chính sách bế quan tỏa cảng khắt khe nhằm làm ổn định xã hội.

Cửa ngõ duy nhất mà Nhật Bản mở ra với nước ngoài trong suốt hơn 200 năm là Dejima, một hòn đảo nhân tạo kích thước bé tí 120m × 75m, là nơi buôn bán với người Hà Lan. Để lại ấn tượng xấu cho các lãnh chúa Nhật Bản chính là các thương nhân + nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, họ không tách rời giữa các động cơ tôn giáo và kinh tế, và có phần nào đó quá cấp tiến trong các hoạt động của mình. Nhưng người Hà Lan thì nhẹ nhàng hơn, họ nhấn mạnh buôn bán và ít đề cao tôn giáo, nên… dễ nhận được sự đồng cảm, chấp nhận từ phía người Nhật Bản. Từ đó hình thành nên phong trào Rangaku – Lan học – 蘭學, một dòng chảy âm thầm trong xã hội Nhật, tuy bế quan tỏa cảng, nhưng khác với Việt Nam, người Nhật vẫn âm thầm học hỏi, tiếp nhận văn minh phương Tây qua ngã Hà Lan.

Sách vở được mua đều đặn, các dụng cụ như đồng hồ, bản đồ, kính thiên văn, kính hiển vi, các dụng cụ y tế, sách y học, giải phẫu học, etc… liên tục được nhập khẩu, từ đó, người Nhật nghiên cứu và tự chế tạo các thiết bị của riêng mình, từng bước tiến đến có những phát minh sáng kiến riêng. Các lĩnh vực mà người Nhật rất tò mò và có nhiều tìm tòi là các loại đồng hồ cơ khí chính xác, tự động hóa, và kính hiển vi dùng để quan sát và vẽ các bản mẫu sinh vật! Suốt gần 200 năm, cũng phải có một quá trình như thế nào đó, chứ không phải đùng một cái, nói Minh Trị duy tân mà duy tân ngay được! Và bên trong cũng phải có cái gì đó, thì mới có thể có công phu tìm hiểu, nghiên cứu được, chứ “tâm” chỉ có ghen ăn tức ở với lưu manh lặt vặt, thì rồi cũng chỉ “ngụy trí thức, ngụy quân tử” mà thôi!

shogun, 2024

Nhớ lại cuối tháng 5 năm đó, 2025, ốm một trận khá to đến gần 2 tuần, người thì vẫn có vẻ khỏe, vẫn đạp xe tập gym nhẹ nhẹ được, ra ngoài người ta nhìn không biết mình ốm, nhưng thực ra bên trong sốt cao mất cả giọng nói. Bệnh nó làm thay đối tâm tính con người, chỉ nằm nhà xem phim… Là cái phim cũ rích Shogun 1980 làm lại, đây là phiên bản 2024. Đương nhiên so với gần 50 năm trước sẽ có nhiều khác biệt, thời đại thông tin, người ta ngày càng biết rõ ràng hơn, kỹ càng hơn về một nền văn hóa, tất tần tật từ những chi tiết nhỏ nhất như 6, 7 lớp áo kimono phải mặc như thế nào, hay cách bài trí một căn nhà phải ra làm sao, etc… Về phương diện này thì phim khá là thành công, đầu tư kỹ lưỡng, phần đông người Nhật có vẻ như không có ý kiến gì về mức độ tái tạo chân thực của phim, đương nhiên cũng chưa biết những người thật sự khó tính nghĩ như thế nào. Phải nói là Nhật Bản và phương Tây có một sự giao lưu văn hóa từ rất sớm!

Và trong chừng mực nào đó có sự thông hiểu nhất định giữa Đông – Tây hai bên, nên phương Tây muốn tái tạo một không gian văn hóa Nhật sẽ tương đối dễ thành công hơn một không gian Trung Quốc hay Nga. Nga và Trung Quốc, đó là những thế giới còn phức tạp và khác biệt đáng kể nữa, khi những kiến thức “giả cầy ta đây biết rồi” là sẽ hoàn toàn không đủ để tái tạo một không gian văn hóa mang tính nguyên bản – authentic có thể thuyết phục được người khác. Hai “đảo quốc” hoàn toàn không lớn lắm, nếu không muốn nói… khá là bé, một ở bờ Tây, một ở bờ Đông, Anh và Nhật, xem như là 2 “đầu tàu” kéo văn minh nhân loại phát triển trong những giai đoạn nào đó, liên tục đi đầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cả hai đều là hai quốc gia “quân chủ” lâu đời! Xem ra thể chế chính trị chẳng hề có tí ảnh hưởng nào, quan trọng vẫn là phẩm chất con người như thế nào mà thôi! 10 tập đầu của phần 1, có lẽ sẽ có phần 2, 3 tiếp theo…

Phim dựa trên tiều thuyết cùng tên của James Clavel, còn tiểu thuyết thì dựa trên một sự thật lịch sử: William Adams, được xem là người Anh đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, là hoa tiêu trên một đoàn tàu 5 chiếc của công ty Đông Ấn, Hà Lan, đoàn tàu vòng qua eo biển Magellan vượt Thái Bình Dương nhưng chỉ có một chiếc đi tới đích. Sau khi thuyền bị trôi dạt vào bờ biển Nhật Bản, 1960, William Adams trở thành cố vấn cho Tokugawa Ieyasu, được tin cậy và trở thành samurai – hatamoto, được phong một lãnh địa nhỏ chừng 400 koku. William Adams đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Nhật Bản giai đoạn này, ông ta giúp Tokugawa Ieyasu xây dựng một đội thương thuyền, tiến hành buôn bán với nhiều nước châu Âu và Đông Nam Á, thu mua vũ khí phục vụ cho cuộc chiến thống nhất Nhật Bản, trở thành Shogun của Tokugawa Ieyasu! William Adams lấy vợ, sinh con và sống ở Nhật 20 năm cho đến lúc qua đời, 1620.

So sánh không được chính xác cho lắm, nhưng William Adams ở Nhật cũng có thể xem như Bi Nhu Quận công tại VN vậy, mặc dù Pierre Pigneau de Behaine để lại một dấu ấn, tuy ngắn ngủi, nhưng có thể nói là sâu đậm hơn nhiều. Nguyễn Ánh đã phong cho ông ta một cái tước cao nhất có thể, vì lúc đó chính thức vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng của Lê Hiển Tông (dù nhà vua đã qua đời), và nhà Chúa thực ra chỉ là tước vương mà thôi, nên phong đến Quận công là tột đỉnh rồi, không thể cao hơn được nữa. Ông Bi Nhu – Pigneau này, trong khoảng 15 năm cho đến lúc mất, đã cố vấn cho Nguyễn vương xây dựng đường sá, xây đắp thành lũy, khai mỏ nấu quặng, rèn đúc vũ khí, chia dân cư thành các vùng chuyên canh trồng cây “công nghiệp”, huấn luyện binh lính theo lối Tây phương, làm trung gian mua tàu thuyền, vũ khí, và có lẽ đóng góp quan trọng nhất là tham gia kiến thiết hạm đội thuyền chèo tay – galleys hùng mạnh của nhà Chúa!

khách gia thổ lâu

Tiếng Hoa có 5 nhánh ngôn ngữ con: Phổ thông thoại – 普通话, là quốc ngữ hiện nay, Ngô – là phương ngôn của vùng Thượng Hải, Khách Gia – 客家 là ngôn ngữ của cộng đồng Khách Gia, Việt – là ngôn ngữ của Quảng Đông, và Mân – một phương ngữ có “gốc” Phúc Kiến. 5 nhánh ngôn ngữ này tuy không thông hiểu nhau được (mutual intelligible) nhưng đều từ một gốc tiếng Hoa cổ phát triển ra, do các cộng đồng người Hoa di cư đi khắp nơi, những cuộc di cư từ 2000 năm trước hoặc sớm hơn! Ví dụ như Triệu Đà, người Chính Định, Hà Bắc được nhà Tần bổ nhiệm làm huyện lệnh Phiên Ngung, và ông ta đã di cư một số lượng lớn người phía Bắc xuống Quảng Đông.

Ví dụ thứ 2 là người Khách Gia, đã bắt đầu đi cư từ đồng bằng Hoa Hạ xuống phía Nam cách đây ít nhất 1000 năm. Khi đến nơi, họ gặp những người Quảng Đông (đã di cư đến đó từ trước) và cho rằng đó là “Chủ, là người bản địa”, tự nhận mình là “Khách”, nhưng đến khi ngồi lại, tra thư tịch, truy tìm các tài liệu viết (ví dụ như gia phả) thì hóa ra, Quảng Đông, Triều Châu, hay Khách Gia đều là người Trung Nguyên di cư cả! Lịch sử có nhiều những ngộ nhận như vậy, không phải lúc nào cũng tường minh, rõ ràng! Và trên bước đường di cư có sự kết hợp nhất định với những yếu tố “bản địa” ở đó từ trước, như Miêu, Tráng. Tiếng Việt bị ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Hoa trung đại…

Nhất là từ thời Đường, thêm các thành phần tạm gọi là “Bách Việt” (thuật ngữ này theo tôi chỉ là một cách gom nhóm chung chung vô cùng thiếu chính xác), nên đôi khi ta bắt gặp một số điểm tương đồng “đáng ngạc nhiên” giữa tiếng Việt và tiếng Triều Châu, Khách Gia, Quảng Đông. Vì đều phát triển từ, hoặc chịu ảnh hưởng nặng bởi tiếng Hoa, đây là điều chẳng có gì khó hiểu, dù về địa lý hay lịch sử thì người Việt với người Khách Gia, Triều Châu chẳng có mấy liên hệ! Nhưng có một số khá đông những người tự gọi là nhà “ngôn ngữ học” (tôi gọi là lưu manh giả cầy), vin vào một số điểm tương đồng bất chợt, ngẫu nhiên rồi cho rằng… tiếng Việt, Khách Gia, Triều Châu, Quảng Đông là… cùng một họ Bách Việt!

Tiếp nữa là… nói ngược, tìm cách ngụy tạo ra cái gọi là “một Bách Việt thống nhất và hùng mạnh”, bằng cách gom vào nó những nguồn khác một cách… “bá vơ”. Bọn Tây nó có cái chiêu là “đa nguyên”, “đa thành phần”, điều này hiển nhiên có phần đúng khi sự phát triển của văn minh là cấu thành của vô số yếu tố! Nhưng “đa nguyên, đa thành phần” hoàn toàn khác với kiểu muốn vẽ ra bất kỳ sự “hoang đường, tùy ý” nào cũng được! Như cách nói của một số “ngáo gia” Việt thì chỉ có Bách Việt thôi! Không cần nghiên cứu gì, chỉ dựa trên nguồn Tây, Tàu công bố, xào xáo lại, đưa vào đó những mẹo ngôn từ thiểu năng, đảo lộn trật tự thời gian, và vô số “lú luận” càn quấy để ngụy tạo lịch sử!

Cứ như thế, khắp phía Nam sông Trường Giang đều là Bách Việt cả, chúng nó nói một lúc thì… không có cái gì gọi là Hoa Hạ cả, chỉ có Bách Việt và Mông Cổ mà thôi! Hoa Hạ thực chất chỉ là sản phẩm lai tạo giữa Mông Cổ và Bách Việt! Và Bách Việt mới là cái gốc, cái nguồn lớn, sinh ra mọi thứ! Những dạng thông tin như vậy tạo ra không ít nhiễu loạn trong cộng đồng! Cái sự cuồng loạn của một số thành phần đúng là… vô đối, gọi là tâm thần không sai! Trống hơ trống hoác: chữ viết không có, tư tưởng sách vở cũng không, khoa học kỹ thuật vẫn như thời bán khai, văn hóa cộng đồng đến tận giờ vẫn như công xã nguyên thủy, nhưng tâm thì cuồng loạn vô đối, chính là 2 mặt của 1 đồng xu mà thôi!

châu ấn thuyền – red seal ships

Ai đã đọc tiểu thuyết Tướng quân – Shogun – James Clavell thì sẽ tưởng tượng được những bước sơ khai đầu tiên trong việc thành lập đội các Châu Ấn thuyền ở Nhật Bản. Đương thời, ở Nhật lúc đó, ngoại thương là đặc quyền nằm trong tay các Tướng quân, cần phải có một văn bản (giấy phép) có dấu triện đỏ (châu ấn) thì các con thuyền này mới xuất ngoại buôn bán được. Châu Ấn thuyền là những con tàu khoảng 500 ~ 700 tấn, có kết cấu khá đặc biệt khi kết hợp các kỹ thuật Đông lẫn Tây trên con thuyền, có các lá buồm mành (junk) kiểu TQ và buồm vuông (square) kiểu Tây phương.

Tại thời điểm phát triển thịnh vượng nhất, Nhật có hơn 350 thuyền như vậy, buôn bán với Đài Loan, TQ, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Phi, Indo, etc… Cần phải nói rõ là việc buôn bán này là siêu lợi nhuận! Ví dụ như quế (cinnamon) mua được ở VN, đem về tới Nhật sẽ có giá gấp đôi, gỗ đàn hương (sandalwood) đem về từ Nam Á sẽ có giá gấp ba! Đi ra biển với bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm, đem về mức lời 200%, còn thua cả một số streamer VN hiện đại chỉ buôn nước bọt online mà đạt được mức lợi nhuận 2000% (hai ngàn phần trăm), đúng dân trí nó… không thể tự luận ra được!

Rất nhiều nước được lợi từ việc mua bán này, các chúa Trịnh, Nguyễn cần nhất từ Nhật Bản là đao (và vũ khí nói chung)! Cứ phải nói thẳng ra rằng… hàng chúng ta tự làm ra không đạt, không xài được! 350 tàu là một lực lượng khổng lồ, gồm các võ sĩ (samurai) chuyên nghiệp, nên người Nhật đã tìm cách thành lập cả một khu “thuộc địa” ở Thái Lan, trong chừng mực nào đó lấn át cả quyền lực Hoàng gia Thái, chỉ duy trì một đội quân vài trăm người mà tự tung tự tác đến mức người Thái không làm gì được. Và có vẻ như người Nhật cũng đã thử làm điều tương tự ở VN nhưng thất bại!

hq-671

Nhìn mãi những đường cong của HQ-671, con tàu “bảo vật quốc gia”, thực sự rất rất đẹp! Thông số: dài 31m, rộng 5.8m, lượng giãn nước 165 tấn, từ đó suy ra phần mạn ướt (draft) chỉ khoảng 1.4 ~ 1.7m, chính là thiết kế để cập trực tiếp vào những bãi biển, cửa sông nước nông. Không biết ai đã thiết kế con tàu này, nhưng đường nét của nó có dáng dấp một chiếc thuyền cứu hộ (lifeboat) cổ điển được phóng to lên, với hai đầu nhọn (double-ender). Với thiết kế như thế thì thuyền sẽ tương đối kém ổn định, bắt buộc phải dùng nhiều hàng (hay két nước) để giằng tàu.

Loại tàu như thế này thường đòi hỏi người thuyền trưởng phải có hiểu biết, nhạy cảm nhất định về cách cân bằng tàu. Thường thì sẽ đem theo lượng nước ngọt, dầu máy, nhu yếu phẩm đủ dùng cho khoảng 3 tuần hải hành, nhưng cũng vì thế mà thường chỉ chở được 50 ~ 60 tấn vũ khí. Những đường cong nhìn rất vừa con mắt, mặc dù về thi công có những chỗ vẫn có thể làm tốt hơn, như chân vịt hay bánh lái hơi mong manh, không được bảo vệ tốt, khá kém nếu so với tiêu chuẩn của một thuyền cứu hộ, và cabin hơi cao, cao một cách không cần thiết!

đoàn 371

Ngoài Đoàn 125 vận tải thuộc Hải quân và đội 128 “giao thông đường thủy” thuộc Cục tình báo, còn có một đội “tàu không số” khác nữa mang số hiệu Đoàn 371, hoạt động… “công khai, hợp pháp”, do Tư Mau (Phan Văn Nhờ) làm đoàn trưởng, hoạt động dưới vỏ bọc Công ty Việt Long, đăng ký kinh doanh hợp pháp ở miền Nam, ban đầu là các tàu “buôn muối” chạy tuyến Đà Nẵng – Sài Gòn (và chạy thẳng ra Bắc nhận vũ khí). Vào vai một nhà “tư sản” hoạt động đa ngành, từ buôn muối, đánh cá, và nhiều lĩnh vực khác, sở hữu 7, 8 tàu nhiều kích cỡ, có chiếc đến 120 tấn, máy 500HP!

Công ty có cơ sở rộng khắp từ miền Trung cho đến miền Nam, hoạt động một thời gian thì bị chỉ điểm, địch phá được một số cơ sở, nhưng may mắn vẫn giữ được nhiều tàu. Chỉ huy Tư Mau phải đi viện Quân y 108 ở miền Bắc, tiến hành các đợt giải phẫu thẩm mỹ thay hình đổi dạng, đến người quen cũng không thể nhận ra, sau đó lại vào Nam xây dựng vỏ bọc mới, tiếp tục vận chuyển vũ khí trên biển. Thông tin giải mật đến ngày nay cho chúng ta biết về 3 đội tàu “không số” đó, nhưng biết đâu vẫn còn những “hạm đội bóng tối – shadow fleet” khác mà thông tin chưa giải mật! :D

tàu không số, 2

Về các con tàu không số vỏ sắt do VN tự thiết kế và tự đóng (và sau đó còn “chuyển giao bản vẽ” cho TQ đóng)… Em tin chắc là các bác ấy xạo, có thể là đã tự đóng thật, nhưng đóng ra không xài được, cuối cùng toàn phải xài tàu TQ. Theo các “ghi chép” thì các con tàu không số vỏ sắt đóng ở Tam Bạc có tải trọng (hữu ích) chừng 100 tấn, dài 28m, rộng 5.8m, động cơ 235 HP, từ đó suy ra phần mạn tàu ướt (draft) chỉ cỡ 1m, được cho là đã chạy tốt trong những cuộc rượt đuổi với tốc độ trên 10 hải lý/giờ với hải quân Mỹ và VNCH. Sẽ là vô nghĩa nếu cố tình đưa ra những thông tin rượt đuổi như vậy, vì các tàu Mỹ, như các tàu của lực lượng tuần duyên USCGC đều có tốc độ trên 16 knot, các tàu khu trục cỡ nhỏ như lớp Edsall có tốc độ đến 21 knot, các giang thuyền PCF còn nhanh hơn, đến 32 knot!

Tàu hàng nặng không cách nào đua với tàu chiến được, không nên so sánh vô lối! Và chỉ cần tính nhẩm một chút là biết ngay con số 10 hải lý/giờ đó là không thật! Dùng công thức Crouch tính xấp xỉ tốc độ tàu, tốc độ tối đa (top speed) = C / sqrt (Displacement / HP), tải trọng ~ 100 tấn ~ 220000 pound, tốc độ tối đa ~ 10.5 knot, C là hằng số có giá trị khoảng 150, thì suy ra công suất máy phải có là 1078 HP! Nhưng thông tin về máy lắp trên các tàu này là máy CHDC Đức, 235 HP! Cũng dùng công thức đó sẽ tính được, nếu máy là 235 HP thì tốc độ tối đa chỉ khoảng 5 knot thôi, muốn tăng tốc độ lên gấp đôi, 10 knot, thì công suất phải tăng theo mũ bình phương, tức là gấp 4! Hoặc phải lắp đến 4, 5 máy thì mới đạt được tốc độ trên 10 knot. Mà lắp 4, 5 máy thì phần hộp số truyền động…

Kết nối các động cơ với chân vịt không phải là chuyện đơn giản. Có rất nhiều thứ “nhỏ nhoi” nhưng không đơn giản trên một con tàu, ví dụ như stuffing-box – hộp nối trục chân vịt không cho nước thấm vào tàu, hay các hệ thống máy bơm, các loại hộp số giảm tốc là chắc chắn VN chưa làm được. Em không ngại nói thẳng như vậy, không thì các bố lại tán hưu tán vượn những chuyện hão huyền, không thật! Tự thiết kế một con tàu nhỏ, vẽ mô hình trên giấy, tính toán thông số lý thuyết… thực chất không khó, chỉ cần học sơ bộ một năm thiết kế hàng hải là làm được, đây mới là tàu nhỏ, chưa phải là “thuyền – ship”. Nhưng đóng được tàu chạy tốt, chạy bền thì… rất khó, toàn là những chuyện kỹ thuật “lặt vặt”, thực tế là đến tận ngày nay, tàu do chúng ta đóng ra vẫn chưa xài tốt được!