microtone and eastern music – 1

ó những điều từ lâu cảm nhận được mà không biết phải diễn đạt thế nào… đến nay thì mới tập hợp đủ để viết một bài giới thiệu ngắn. Tuy kiến thức nhạc lý ít ỏi, cũng xin phép được mạo muội tóm dịch và chú thích những điều đọc được ở Gurdjieff International Review.

MICROTONE VÀ ÂM NHẠC PHƯƠNG ĐÔNG – phần 1

Âm thanh phát sinh khi một chất liệu rung động tại một tần số xác định và làm phát sinh các sóng lan truyền trong môi trường dẫn. Quãng (interval): khoảng cách giữa hai tần số, ta ký hiệu là ký hiệu [a, b]. Tuy nhiên, do tai người nhạy cảm với tỷ lệ giữa các tần số hơn là khoảng cách giữa chúng nên các quãng của âm nhạc được xây dựng dựa trên tỷ lệ b/a: 2/1 : octave, 3/2 : fifth, 4/3 : fourth, 5/4 : major third, 6/5 : minor third, etc… Với cách xây dựng như trên, ta có được các quãng thường dùng nhất trong âm nhạc.

Quãng tám (octave): là một quãng đặc biệt, có vai trò như một khung (frame) vì nó có thể được chia thành các quãng nhỏ hơn để chứa các âm giai (scale) khác nhau của các nền văn hóa khác nhau. Trong truyền thống nhạc phương Tây, âm giai chứa trong octave được chia thành bảy quãng nhỏ hơn, do đó bao gồm 8 note (cũng từ đó mà có cái tên: quãng tám).Việc chia thành 7 quãng nhỏ dựa trên một tính chất là tính thuận tai (consonance). Tính thuận tai (consonance) và nghịch tai (dissonance) hàm ý phản ứng của tai người với một quãng. Tuy nhiên, có những thực tế vật lý đằng sau kinh nghiệm chủ quan của con người: khi hai dao động có tần số a b tương tác, có thể sẽ tạo ra một dao động thứ ba có tính dissonant (nghịch tai). Với octave, sự tương tác đó không tạo ra một dao động thứ ba nào.

Quãng thuận tai kế đến là quãng năm: loại quãng này sinh ra một ít âm dao động nghịch tai khi hai nốt tương tác với nhau. Quãng thuận tai kế đến nữa gọi là fourth, có chứa nhiều hòa âm nghịch tai hơn, và cứ như thế. Quãng thứ bảy trong dãy này (minor seventh), sản sinh nhiều nốt nghịch tai có thể nghe được rõ ràng. Tiếp tục như vậy đến vị trí thứ quãng thứ mười hai (tritone), nghịch tai đến nỗi trong lịch sử âm nhạc Thiên Chúa giáo, nó từng được gọi bằng cái tên quỷ sứ của âm nhạc.

Phần lớn âm nhạc Tây phương được soạn nhờ đến âm giai 7 nốt. Trong khi đó âm nhạc Đông phương thường có những quãng còn nghịch tai hơn cả tritone và được gọi là microtone, chúng tương ứng với những nốt của quãng tám nội (inner octave). Về quãng tám nội, có thể hình dung như là mỗi một nốt bản thân nó cũng có thể được xem như là một quãng, và có thể được chia thành những quãng nhỏ hơn bên trong chúng (xem minh họa ở hình trên).

Âm nhạc truyền thống Đông phương luôn là đơn âm điệu (monophonic), chỉ sử dụng các giai điệu, và do đó có thể gộp các quãng microtone vào dễ dàng. Âm nhạc Tây phương hầu hết là đa âm điệu (polyphonic), tức ngoài giai điệu còn sử dụng đến hợp âm (chord). Nói chung thì âm nhạc Tây phương tránh việc gộp các microtone vào, vì chúng ảnh hưởng đến hợp âm. Loại âm nhạc có chứa các microtone này thực ra phổ biến trên toàn thế giới. Các giai điệu ngoại lai của âm nhạc phương Tây, các nhạc thổ dân, bản xứ … đều có nhiều cách để truyền tải microtone. Và mỗi nền văn hóa, mỗi truyền thống đều có những microtone riêng như là những dấu lăn tay, điểm chỉ, chữ ký cho nền văn minh của mình.

Kurd melody for two flutes 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

19 − twelve =