“lý thuyết hấp dẫn mới”

u hu hu hu, ô hô! Tôi muốn khóc, khóc to, thật to, khóc cho những linh hồn bạc nhược và ảo tưởng về một tương lai huy hoàng, khóc cho một dân tộc suy đồi, khóc cho một nền văn hóa và học vấn mạt vận… Mọi người sẽ cười, không phải cười một bệnh nhân vĩ cuồng (megalomaniac), mà cười cái hội đồng uy tín nào đã ca ngợi và đề nghị công bố cho cả thế giới biết, cười những cơ quan truyền thông nào đã lên dây cót tinh thần như thế này nhân dịp Việt Nam gia nhập WTO.

Gần đây báo Thanh Niên đăng bài: Một người Việt đề nghị công bố thuyết hấp dẫn mới, sau đó đăng nguyên văn bài viết chi tiết, trong đó tác giả Bùi Minh Trí nêu ra một lý‎ thuyết mới: Giải thích cấu tạo vật chất theo kiểu vật thể và trường quyển không thể tách rời của nó, đồng thời chỉ ra sự ngộ nhận của Newton và Einstein về nhiều mâu thuẫn nghịch lý, nhiều khái niệm mơ hồ không nhất quán về tự nhiên.

Báo Thanh Niên đồng thời trích lời PGS-TS Bùi Ngọc Oánh, (viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng VN): Vấn đề ông Bùi Minh Trí đưa ra là có cơ sở, nghiên cứu nghiêm túc nên Viện chúng tôi quyết định hỗ trợ việc công bố rộng rãi cho các nhà khoa học trong nước (và sau đó là các nhà khoa học quốc tế) được biết học thuyết mới này. Nguyên văn bài viết được đăng tải ở đây.

Bài viết bao gồm 45 trang, định dạng cẩu thả, có nhiều lỗi đánh máy, từ ngữ và khái niệm không nhất quán, thiếu chính xác, và nhiều câu tối (vô) nghĩa. Tác giả viện dẫn những thiếu sót, mâu thuẫn trong lý thuyết cơ học cổ điển của Newton, trong thuyết tương đối của Einstein, và đưa ra những luận chứng của Thuyết hấp dẫn mới để có thể giải thích các nghịch lý, mâu thuẫn của vật lý hiện đại. Tổng quát, trình bày của tác giả có cấu trúc như sau:

  • Thiếu sót của thuyết cơ học cổ điển của Newton.

  • Thuyết tương đối của Einstein và một số ngộ nhận của ông.

  • Thuyết hấp dẫn mới với khái niệm cơ bản: vật thể và trường quyển hấp dẫn năng lượng của nó.

1.   NEWTON VÀ CƠ HỌC CỔ ĐIỂN

Luận điểm chính phản bác thuyết cơ học cổ điển của Newton là: Khối lượng không hấp dẫn khối lượng mà khối lượng (trong vật thể tâm trường) hấp dẫn các năng lượng không gian (hạt Graviton) trong trường quyển chuyển động hướng tâm với gia tốc g. Các vật thể có khối lượng hiện hữu trong trường quyển bị cuốn theo cùng gia tốc đó (sic).

Vấn đề ở đây là khái niệm vật thể và trường vật chất xung quanh vật thể không phải là khái niệm mới, nó đã có ít nhất từ lúc Faraday phát hiện ra điện từ trường.

Tác giả chỉ mượn lại khái niệm này và thêm vào graviton, một loại hạt giả thuyết chưa được chứng minh về sự tồn tại. Theo tác giả, quan điểm của Newton về không gian là không gian trống rỗng tuyệt đối. Thực ra là Newton, cũng như phần lớn các nhà khoa học cùng thời, cho rằng không gian được lấp đầy bằng ethe, một loại vật chất giả thuyết lúc bấy giờ.

2.   EINSTEIN VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI

Tác giả bài bác hai luận điểm của Einstein và gọi đó là ngộ nhận: Ngộ nhận vận tốc làm thay đổi khối lượng của vật thể chuyển động (sic).

Einstein chưa bao giờ có ý này, ông chỉ nói vận tốc làm thay đổi thời gian tương đối của vật chuyển động.

Ngộ nhận môi trường không gian là chân không dẫn tới ngộ nhận vận tốc ánh sáng trong môi trường không gian là hằng số vật lý, thực ra vận tốc, ánh sáng c không phải là hằng số vật lý trong mọi trường quyển vật thể (sic).

Einstein cũng không có ý này, ông chỉ nói vận tốc ánh sáng trong môi trường chân không là hằng số c. Một học sinh lớp 9 cũng biết rằng ánh sáng chuyển động khác nhau trong các môi trường vật chất khác nhau và đặc trưng cho thuộc tính này là chiết suất của môi trường. (Đây chính là đánh tráo khái niệm giữa môi trường chân khôngmôi trường không gian).

Phê phán về các chứng minh lý thuyết và thực nghiệm của lý thuyết tương đối (hẹp) của Einstein rất hàm hồ và không chính xác: Thuyết tương đối tổng quát đã dự đoán 3 hiệu ứng hấp dẫn… Các quan trắc đã kiểm nghiệm là khá phù hợp với dự đoán của lý thuyết, song các kết quả quan trắc kiểm nghiệm đó có đáng tin cậy hay không thì chưa có phương pháp kiểm chứng đảm bảo (sic).

Tác giả Bùi Minh Trí có thể đọc lại lịch sử vật lý để biết các chứng minh thực nghiệm này đã được chuẩn bị và tiến hành như thế nào, có rất nhiều tài liệu ghi lại các chuyến hải hành và đo đạc kiểm chứng của Viện Hàn lâm Khoa học và Hải quân Hoàng gia Anh lúc bấy giờ (1914). (Trong điều kiện nước Anh đang có chiến tranh với Đức, Thế chiến thứ I, mà giới học giả Anh vẫn có thể làm một hành động rất công tâm là kiểm chứng và thừa nhận giả thuyết của Einstein, lúc đó đang còn là một nhà khoa học Đức).

Không gian phi Euclid, một cơ sở của lý thuyết tương đối tổng quát có hiện thực hay không? Cho đến nay chưa ai chứng minh được bởi hình học phi Euclid của Riemann, Gauss, Bolyai, Lobachevsky suy ngẫm cho cùng chỉ là hình học mặt phẳng chuyển sang các mặt cong có độ cong không đổi trong không gian Euclid mà thôi. Đó không phải là hình học không gian phi Euclid (sic).

Vậy thì thế nào mới là hình học phi Euclid, tác giả không nói rõ!?

Xây dựng thuyết tương đối tổng quát, Einstein đưa ra khái niệm không – thời gian cong, một khái niệm không thể hình dung nhận thức theo tư duy thông thường cho đến nay chưa có ai giải thích được rõ ràng thuyết phục khái niệm không – thời gian cong (sic).

Điều này chứng tỏ tác giả không hiểu Einstein ở những điểm sơ đẳng nhất, cũng là những điểm tinh tế nhất, đồng thời tác giả cho thấy lập luận chủ yếu của mình là một quan điểm về không – thời – gian tuyệt đối. Đây là một nhận thức có tính trực quan và bản năng tồn tại trong mỗi cá nhân, một tri thức tiên nghiệm theo nghĩa của Kant, và cũng là nhận thức mà Einstein đã đả phá.

Đọc kỹ, có thể tìm thấy rất nhiều những nhận định hàm hồ và ngây thơ trong 45 trang viết.

3.   TÓM LẠI

Tác giả thiếu hiểu biết cơ bản về vật lý. Tác giả không logic trong cách đặt vấn đề và chứng minh vấn đề. Các công thức tính toán chỉ là những biểu thức cơ học cổ điển đơn giản, không có nội hàm biểu đạt không – thời gian theo nghĩa vật lý hiện đại.

Chỉ cần một học sinh hết cấp 3 được giáo dục tử tế cũng có thể nhận ra những luận điệu vô bằng vô chứng của tác giả. Tình huống thế này có thể được tóm tắt trong một câu nói đùa như sau: người nghe không hiểu người nói đang nói những gì, nhưng nếu người nghe hiểu người nói ấy đang nói gì, thì người nghe cũng sẽ hiểu ra một điều rằng: người nói không hiểu điều anh ta đang nói! 😬.

Tác giả chỉ chứng minh được một điều rằng mình không hiểu Einstein và cả Newton ở những điểm sơ đẳng nhất. Thuyết hấp dẫn mới không có gì khác ngoài việc nhắc lại một cách không chính xác một số vấn đề của vật lý hiện đại. Tác giả thậm chí không đưa ra được một luận điểm có thể bàn cãi.


Phàm sinh ra ở đời, ai cũng dốt. Ði học được mươi năm, ta bớt dốt đi chút ít, nhưng người học sinh thông minh và biết điều hiểu rõ rằng những gì mình biết được so với những gì mình chưa biết chỉ là hạt muối bỏ biển, cho nên càng học càng thấy mình dốt. Thành thử có thể định nghĩa người có học thức là người biết mình dốt, hay nói như Khổng tử, “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri gia”; “biết cái gì thì biết là mình biết cái ấy; không biết thì biết là mình không biết, ấy là biết vậy”.

Có lẽ đó chính là cái yêu cầu, cái lý tưởng khó thực hiện nhất đối với người “có học thức”. Nó đòi hỏi nhiều đức tính rất khó có ở con người. Là người, ai cũng bị rất nhiều thứ áp lực thúc bách, trong đó áp lực mạnh nhất là áp lực của nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu này là trở ngại lớn nhất cho ý thức “tri chi vi tri chi”. Trong những điều kiện khó khăn như ở nước ta (nhất là trong thời chiến), người ta cần có địa vị, cần có bằng cấp, và cho thật nhanh. Học thì lâu quá, và nhiều người trong thâm tâm cũng biết là mình không đủ sáng dạ để học cho thật nhanh. Phải đi bằng con đường khác. Có những con đường có sức cám dỗ rất lớn – những con đường tắt và những con đường vòng của sự gian trá. Nhưng sự gian trá không phải không nguy hiểm. Nó có thể bị bại lộ. Có những người có lương tâm quá lớn, không thể tự dung túng cho mình sự gian trá. Mặt khác, không thể chọn con đường lao động học tập. Bị khép chặt giữa hai sức mạnh quá lớn, cõi vô thức trong tâm lý của những người ấy chọn một con đường thứ ba: một buổi sáng đẹp trời nào đấy, có một cái gì lóe lên trong trí họ. Họ chợt giác ngộ ra rằng họ là một người không cần học gì hết, vì một lẽ đơn giản là họ đã biết hết rồi, họ là một vĩ nhân, cách xa nhân loại hàng chục năm ánh sáng. Họ chợt hiểu rõ như ánh ban mai rằng những sách vở “kinh điển” mà họ đọc mãi không hiểu và tưởng đâu quá khó đối với mình, chẳng qua là một mớ giấy lộn do những đầu óc ngu đần viết ra – sản phẩm của những con người không đáng là học trò của họ. Trang tử, Mặc tử, Platon, Aristote, Einstein, Marx – một lũ dốt nát mà không hiểu tại sao người ta sùng kính. Sở dĩ mình đọc mãi mà không hiểu là vì những con người đó quá thấp so với tầm cỡ mình. Họ lấy làm lạ là sao ba bốn chục năm trời mình mới phát hiện được một điều đơn giản như vậy.

Cái hạnh phúc ấy quá lớn để họ có thể khước từ. Nó đưa những người như thế từ địa ngục lên thiên đường. Nó biến họ từ con sâu thành thần thánh. Từ nay, họ bước đi trên đường đời, lòng tràn đầy hoan lạc, nhìn xuống đám nhân loại tội nghiệp kia đang chìm trong cõi u tối, giương mắt bé nhìn mình mà không biết là đang nhìn ánh sáng của chân lý tuyệt đối.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nhất là một bệnh nan y như thế. Cách đề phòng duy nhất là làm sao các thế hệ đang lên không mắc vào cái họa ấy. Và muốn thế, chỉ có một cách là gạt bỏ mọi trở ngại trên con đường học vấn của con em chúng ta, làm sao cho chúng tiến đủ nhanh trên con đường ấy để khỏi bị dồn vào cái thế bí, buộc chúng tự huyễn hoặc mình bằng những ảo ảnh sinh ra từ chứng vĩ cuồng, để chúng luôn luôn nhớ rằng mình còn dốt, rất dốt, nhưng không phải là dốt một cách vô vọng, chỉ cần kiên nhẫn ít lâu là có thể đuổi kịp các bạn cùng lứa trên thế giới, rồi từ đó rất có thể vươn tới những đỉnh cao chân chính của khoa học hay nghệ thuật, chứ không phải những đỉnh cao hư ảo của sự điên rồ.

hắn

ắn kể về tình yêu như là hắn đã đi qua cả tá mối tình, và hắn cũng tìm cách đưa ra những lời khuyên này nọ cho bạn bè hắn. Nhưng sự thực hắn chẳng có lấy nỗi một mối tình vắt vai nào. Hắn là một kẻ cô đơn trong tình cảm. Năm lên mười ba tuổi, người hắn yêu là một cô bé bước từ trong cổ tích và sách vở bước ra. Cô bé chẳng hiểu vì sao lại chọn ngay hắn mà để ý, chắc có lẽ vì cái cá tính thông minh nhưng chậm hiểu của hắn. Và mối tình của họ, nếu như có thể nói là như vậy, kéo dài nhiều năm trời, cho đến một lúc nhận ra rằng cả hai đều không còn là trẻ thơ nữa. Quá khứ bị lãng quên trong đau đớn chậm rãi để nhường chỗ cho một thứ có vẻ hứa hẹn hơn gọi là tương lai …

Người yêu thứ hai của hắn, như hắn lúc đó đã nghĩ, phải có một điều gì gần gũi. Và thế là hắn chọn ngay một người hắn nghĩ là giống mẹ hắn nhất. Một người có nụ cười của mặt trăng, có tính nhẫn nại của một người thợ thủ công cần mẫn. Người ấy luôn luôn lắng nghe, và chỉ biết lắng nghe. Những bài học công nghệ phần mềm trên giảng đường, những phương pháp đánh giá rủi ro và thích ứng với đổi thay … Nhưng tình yêu vĩnh hằng thì làm gì có đổi thay, và cả hai không nghe được những đổi thay âm thầm, những thay đổi của một mối tình bắt đầu tan vỡ.

Người yêu thứ ba của hắn, phải là một cái gì đó khác, cái gì đó nhỉ, hắn nghĩ, phải là một cái gì đó mới, không giống ai, riêng biệt. Và hắn nhầm lẫn cơ bản giữa khái niệm riêng biệt và phổ biến. Nàng bảo nàng thích màu hồng, hắn mua tặng nàng một đóa hồng. Nàng bảo nàng thích màu vàng, hắn mua tặng nàng một đóa cúc. Một hôm nàng bảo nàng thích màu xanh hắn … ra chợ mua tặng nàng một bó rau muống.

Người yêu thứ tư, vốn quá biết thói thất thường, vốn quá hiểu tính cách coi trời bằng vung của hắn, đã tìm cách dạy cho hắn khái niệm cần nhau trong cuộc đời. Và dĩ nhiên là nàng thất bại, vì hắn không tự xem mình là ếch ngồi đáy giếng, còn cuộc đời thì đúng là một cái vung chụp xuống đầu nhau bao nhiêu rắc rối và phiền toái. Và cái vai nhà giáo thật ra là một điều gì rất trái ngược với bản chất tự phát của tình yêu.

Trong cái tự phát, tình cờ của tình yêu, hắn đến với người yêu thứ năm. Một nghịch lý lại là một mẫu người sinh ra là để làm vợ, để làm mẹ, hắn đã nghĩ vậy. Và đúng thật là như vậy. Nàng nghi ngờ tất cả những thứ gọi là tình cảm, nàng có xu hướng tôn thờ trật tự và bổn phận, nàng định nghĩa hạnh phúc là được ở trong bổn phận của mình. Hắn lẽ ra đã có thể biết được những gì hắn muốn, nếu như tuổi trẻ không đến kèm với tất cả những bốc đồng, nếu như cuộc sống tù đọng không thúc giục hắn phải phá tung những định kiến ràng buộc để tìm đến những gì dể thở hơn.

Người yêu thứ sáu của hắn, câm lặng không nói gì, vì nàng đã trải qua nhiều quãng đời đau khổ đủ để hiểu hắn, và hắn cũng đã trải qua nhiều đau khổ để không muốn làm ai phải thêm khổ nữa. Hắn đã trải qua khá nhiều chuyện để đến một lúc hắn nghĩ rằng hạnh phúc của mình là mang lại hạnh phúc cho người khác. Nhưng đến khi ngỡ ngàng nhận ra là không ai làm được như vậy, hắn loay hoay tìm cách định nghĩa lại khái niệm hạnh phúc, và cả hai chọn thái độ bất cần, vô tư để tránh phải đối diện với những vấn đề muôn thuở của cá nhân và lứa đôi.

Người ta trong đời chỉ yêu có một lần, lần đầu gọi là tập yêu, những lần tiếp theo là yêu … theo quán tính, hắn phân vân tự hỏi tình yêu thực có chăng cuối chặng đường. Có những gam nhạc không thể nào làm cho đầy được, vì tự bản chất nó đã không đầy. Nhưng có những nhạc sĩ điên khùng vẫn muốn làm cho nó đầy bằng một cách nào đó, và tự bản chất con người là điên khùng như thế.

nẻo về của ý

Sitting in a sand-pit,
Life is a short trip,
The music for the mad man.

hung lũng xưa, hoa trắng, thông xanh tươi và gió mơn man. Thung lũng xưa, những nghịch ngợm và mộng mơ của tuổi nhỏ. Nơi lũ nhỏ chúng tôi đã chơi đùa tự do tự tại, nơi chúng tôi đã đối diện thiên nhiên và những buồn vui của lòng mình. Văn thơ, Đường thi, tất cả những màu sắc phong phú trong thế giới tuổi thơ tôi đã được thêm vào để xây dựng nên cái không gian mơ mộng ấy, cái tôi gọi một thiên đường đã mất.

Ở đấy, trong cái nóng oi bức của mùa hè, tôi đã cảm được tất cả những day dứt, bực bội, mâu thuẫn và phiền toái mà tôi đang chịu những năm tháng về sau. Ở đấy, trong cái lạnh của mùa đông, tôi tìm được cho mình những an ủi, những hoài niệm sâu kín đã giúp tôi đứng vững qua những tháng năm trần trụi này. Ở đấy, tôi đã đối diện với biển khơi để thấy được cái nhỏ nhoi của con người mình, ở đấy, trên những buồn vui, tôi đã nhận ra mỗi chúng ta là một thế giới vô cùng rộng lớn và phong phú. Đấy là nơi mà trong số bạn bè chúng tôi, dù có người chẳng còn mảy may nhớ nữa, vẫn còn nhắc đến với niềm trân trọng.

Một nơi thực có mà cũng chỉ có trong tưởng tượng. Một thiên thai, suối mơ trong lòng đứa trẻ lúc bấy giờ là tôi phải chăng là quá sớm, nhưng những tưởng rằng chúng ta chỉ thực sự hạnh phúc khi có thời gian và không gian để sống cho riêng mình, sống cho tất cả những góc cạnh nhỏ bé sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta, để biết được rằng: đã có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần.

Nhớ lại quán nhỏ bìa rừng, nơi chúng ta đã vui cười bay hết những tháng năm tươi trẻ, và những gì của hiện tại, là gì nếu chẳng phải là chúng ta đang bỏ phí thời gian, cho đến khi thời gian phí bỏ chúng ta? Không phải chỉ sau nhiều mệt mỏi trong cuộc đời, tôi mới lại mơ tưởng về nơi ấy. Không phải chỉ những lúc chán chường với mọi điều, tôi mới nhớ lại về quãng thời gian ngày xưa. Tưởng rằng đã quên mất hẳn rồi, giấc mơ con thuyền dập dềnh trên sóng nước. Tưởng rằng đã không còn nhớ nữa, con đường se sắt gió đông, mưa và lá bay như trút, dáng em đi về phía mịt mù.

Tưởng rằng đã quên chúng ta có một thời như vậy, nhưng mãi mãi chúng ta là như vậy, mơ mộng và mong manh. Bao giờ chúng ta mới biết cách đối diện với chính mình, đối diện với cái bản ngã của quá khứ, của hiện tại và vị lai. Biết đến bao giờ chúng ta mới hiểu ra và biết yêu thương đứa trẻ nhỏ nhoi trong mỗi chúng ta, bởi vì nó mãi là tuổi thơ ngây. Chúng ta vẫn phải sống những ngày tháng của hiện tại và tương lại, và cũng phải cố học cách bỏ lại sau lưng những nỗi đau để mà đi tiếp, nhưng cái hạnh phúc xa xôi ấy lại càng xa hơn. Không ai còn nhớ cái ngày ban đầu ấy nữa!

Cái ngày ban đầu nào ấy nhỉ, các bạn sẽ hỏi tôi. Cái ngày ban đầu của vườn địa đàng đã mất, cái ngày Adam và Eva gặp nhau, cái ngày Adam và Eva đèo nhau đi trên chiếc xe đạp cũ …. Các bạn sẽ nghĩ tôi là người ngủ mơ khi nói tất cả những điều này, nhưng thực sự chúng ta là như vậy, mọi thứ có là vì nhau mà có, còn không vì nhau nữa thì nên có để làm gì. Một bức tranh hoàn tất tỉ mỉ và một bức phác họa đều khổ đau như nhau. Chúng ta những tưởng rằng chúng là những phản ánh của hiện thực xung quanh chúng ta, nhưng biết đâu đấy chỉ là hiện thực về cái tâm phản ánh này của chính mình.

Dâu bể thời gian khiến cho nơi ấy chắc không còn như xưa, nhưng nơi ấy vẫn nguyên sơ như ngày nào trên nẻo về của ý. Ngày nào tâm thức tôi còn phiêu dạt, còn hoang mang và mộng mị thì ngày đó tôi còn nuôi mơ ước trở về.

TKXuyên 2005/05/25

viết cho một cô bé không quen tên Trà My

Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ,
Tìm thử chân mây khói tỏa mờ.
Có bóng tình quân muôn dặm ruổi,
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ.

à Nội, một đêm tháng mười hai, ngoài trời B52 quần đảo. Ô cửa nhỏ một căn gác phố Khâm Thiên, nàng công chúa thắp một ngọn nến lung linh, đợi chờ chàng hoàng tử của cuộc đời mình đến. Nàng không mơ ngựa trắng, đã qua rồi cái tuổi đọc cổ tích, nhưng trong những giấc mơ của nàng, hình ảnh một trượng phu lừng lững vẫn còn đấy.

Trong đầu nàng không có hình ảnh anh chàng bán lạc – xoong đi qua dưới phố, không có những anh chàng trẻ trung đang ngắm thẳng trời xanh bằng SAM – 2, nàng cố vẽ ra chân dung chàng hoàng tử của cuộc đời nàng. Phải là ai đó nhỉ, phải là ai đó mà ngay từ khoảnh khắc đầu tiên gặp mặt, nàng đã biết đó là chàng hoàng tử của cuộc đời mình chăng? Cũng không hẳn vậy, có những tình cảm đến chậm hơn, nàng biết vậy, nhưng cũng phải là một ai đó chứ?

Đó phải là ai đó bước ra từ tranh Đông Hồ chăng? Mà thực thì những hình ảnh Đông Hồ, bầy lợn nái, thầy đồ cóc… chẳng đẹp chút nào. Chỉ cần nghĩ đến những hình ảnh đấy thôi cũng đã đủ làm mình khó chịu rồi. Cái ông Hoàng Cầm ấy mới lẩm cẩm làm sao, chừng này tuổi rồi còn: Nhớ mưa Thuận Thành, Long lanh mắt ướt, nhưng dù sao cũng đáng yêu phết! Cái ông Quang Dũng ở trên gác nhỏ phố Bà Triệu, còn đâu hình ảnh ông thời Tây Tiến nữa, suốt ngày chỉ cõng bà vợ nhỏ con ốm yếu đi lên đi xuống bốn tầng gác. Cô gái vườn ổi ngày xưa ông yêu cũng còn đâu nữa: Bỏ em anh đi, Đường hai mươi năm dài bao chia ly.

Mà lạ, sao cái miền trung du Sơn Tây ấy lại làm cho các ông ấy chết mê chết mệt thế không biết. Mấy lần mình lại qua, chỉ thấy ngổn ngang công sự và hầm dã chiến. Ừ, thì những người ấy già cả rồi, một thời mình cũng được dạy để biết thưởng thức, nhưng mình cũng chẳng biết điều đấy là cái gì nữa. Thơ ư, văn ư, điều gì quá đẹp mà không bao giờ với đến được. Còn cái con bé Xuân Quỳnh đáng ghét ấy, viết chính tả còn sai thì nói chuyện thơ văn gì, sao mà mọi người cứ tán dương những gì nó viết thế nhỉ? Những Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu ngày xưa đâu cả rồi, thơ họ viết ra bây giờ khác nào một kiểu tuyên truyền văn hoá mới.

Thời gian qua đi, năm tháng qua đi, người cha ra đi để lại cho nàng một đứa con gái bé bóng. Nàng nâng niu nó như báu vật của cuộc đời mình. Nàng truyền lại cho con gái nàng những chuyện cổ tích ngày xưa nàng được kể, những mẩu chuyện về xứ Kinh Bắc nàng được nghe, con gái nàng lớn lên, thiếu một người cha, và dư những hoài niệm xa xôi về một thời gian, một không gian đã mất. Người con gái lại tiếp tục nghĩ về chàng hoàng tử của cuộc đời mình, như mẹ nàng từng nghĩ.

Cái không gian xưa cũ với những gam màu cơ bản mẹ kể giờ đây chỉ còn là những mảng màu đen và trắng. Có chăng những liên hệ vô hình nào đó giữa những mảng màu đen trắng và cái không gian mà mình biết mẹ vẫn còn ít nhiều mơ mộng. Triển lãm tranh Bùi Xuân Phái tuần qua, những Hà Nội phố, những Hát Chèo trong tranh ông, những mãng màu nguyên không pha, những đường nét thô ráp, cái không gian thuần nhất và nhuần nhị ấy, cái không gian của mẹ.

Nhưng cũng chỉ là trong tranh ông và trong trí nhớ của mẹ thôi, cái thế giới ấy sao mà xa vời vợi. Con bạn mình vừa sắm cái Nokia, màn hình có những 65525 màu, và bao nhiêu những design mang tông màu công nghiệp khác, sao mà chúng phong phú và đa dạng đến vậy. Những bài giảng Mỹ Thuật Công Nghiệp mà mình đang theo học, những mixed media, những computer design. có biết bao nhiêu cách sử dụng màu và đường nét mới, nhưng dường như là chúng tuân theo một vài nguyên tắc nào đấy, ngoài ra không còn có gì hơn.

Cái thế giới đơn giản ngày xưa ấy, mà thực chất thế giới bên trong mình là thế, vẫn chỉ những mãng màu nguyên thô ráp không pha, buồn sao là buồn.

TKXuyên, giáp Tết 2004.