bắc hành – 2016, phần 42

áng đang lười biếng cà phê khởi động ngày mới, thì ở đâu ra cái hội xe máy Exciter Thanh Hoá tụ tập, gặp mặt offline ở ngay cái quán mình đang ngồi, hàng trăm chiếc Ex xanh xanh giống hệt nhau, mấy trăm con người ồn ào nhộn nhịp! Mỗi một mình mình là con cừu đen giữa bầy trắng, dắt xe nổ máy tiếp tục lên đường giữa hàng trăm cặp mắt ngó vào!

Lại tiếp tục điệp khúc Thuyền và Biển, đi ngang qua cảng cá Sầm Sơn, những chiếc tàu đánh bắt xa bờ hiện đại, cái thiết kế nhìn có vẻ… ổn thoả, hợp logic hơn một chút. Cả một vùng Quảng Xương này hầu như chẳng trồng gì tốt được ngoài thuốc lá. Thửa ngay một cái điếu cày (tre) và ít thuốc lào, kẻo về đến Sài Gòn lại hơi khó kiếm những thứ này!

Biết thêm một chút về kênh nhà Lê, một hệ thống kênh đào được kiến tạo qua nhiều triều đại, nhiều thế hệ, bắt đầu từ Lê Đại Hành (tiền Lê), Lý, Trần, hậu Lê… trải trên 800 năm. Hệ thống kênh đào kết nối các sông ngòi tự nhiên này kéo dài hàng trăm km, nối thông từ Ninh Bình qua Thanh Hoá, Nghệ An đến Hà Tĩnh để phục vụ cho công cuộc mở mang bờ cõi.

Một cảnh tượng thanh bình đến nao lòng khi đứng nhìn cửa Hội, nơi dòng sông Lam ra gặp biển, phía nam tx. Cửa Lò. Ngoài kia là đảo Song Ngư, có cảm giác muốn nhảy ùm một phát làm vài sải là ra tới đảo, ngay và luôn 😀! Nói vậy thôi, chứ sự thực thì… khoảng cách đo trên bản đồ chỉ khoảng 3 km, non hay già một chút, hoàn toàn có thể bơi dễ dàng!

Chặng 42: Sầm Sơn ⇒ tt. Tĩnh Gia ⇒ Quỳnh Lưu ⇒ tx. Hoàng Mai ⇒ tt. Cầu Giát ⇒ Diễn Châu ⇒ tx. Cửa Lò

Bắc hành, 2016, phần 1
Mai Châu, Mộc Châu, 2016
Điện Biên, 2016
Lai Châu, 2016
Hà Giang, 2016
Cao Bằng, 2016
Lạng Sơn, 2016
Bắc Ninh, 2016
Ninh Bình, 2016
Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành – 2016, phần 41

uốc lộ 10 chạy từ Kim Sơn đi Nga Sơn đi qua đền thờ Mai An Tiêm, nằm bên cạnh một vòng cung núi đá vôi rất đẹp. Lộ 10 nhập vào quốc lộ 1A một đoạn chưa xa thì đến đền thờ Bà Triệu, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá. Con đường xuôi Nam lần này sẽ sát biển nhất có thể, một phần để quan sát, tìm hiểu phục vụ cho những dự tính xa xôi hơn trong tương lai…

Phổ biến ở những vùng biển Thanh Hoá này là những chiếc thuyền đi biển nhỏ, đan bằng nan tre, xảm dầu rái, hay những chiếc mảng lớn hơn một chút, đóng bằng luồng, một loại tre dài. Tôi đến tận nơi để xem cách họ đóng, sửa chữa thuyền bè… kỹ thuật chế tác gỗ rất thô sơ, vụng về, sử dụng những phương pháp chẳng tiến bộ hơn… thời kỳ đồ đá là mấy.

Các cây luồng được buộc lại với nhau bằng những sợi cước nhựa, kẹp vào giữa là nhiều lớp mút (xốp). Quan sát từ thiết kế con thuyền cho đến kỹ thuật đóng tàu… những phương tiện này chẳng thể nào đi biển xa một cách nghiêm chỉnh, an toàn được. Thật đáng buồn khi thấy từ trăm năm trước đến trăm năm sau, về cơ bản, vẫn chưa có điều gì là thay đổi!

Ngay các trung tâm nghề cá phát triển như Đà Nẵng, Vũng Tàu… những con tàu lớn đóng với ván đáy dày 20 cm, vẫn không bền hơn được một con tàu tương tự của Thái Lan với ván đáy dày 5 cm. Phải nói thẳng ra rằng người Việt không muốn thay đổi và không chịu thay đổi, chứ còn về kỹ thuật, những điều này chẳng có gì là khó khăn hay phức tạp cả! 😢