đèo ngoạn mục

Trời Nam nghìn dặm thẳm,
Non nước một mầu sương.
Chí chưa thành, danh chưa đạt,
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc?
Trăm năm thân thế bóng tà dương.

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2017, từ Nha Trang lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục – Bellevue, đúng như cái tên, phong cảnh tuy không hoành tráng như núi đồi miền Bắc, nhưng cũng rất ấn tượng.

hồ trường

Hồ trường - Tôn Nữ Lệ Ba 

text=南方歌曲&font=1&size=17&color=0000FF

text=丈夫生不能披肝折&font=2&size=17&color=222222
text=槛,为世扶纲常。&font=2&size=17&color=222222
text=逍遥四海,胡为乎&font=2&size=17&color=222222
text=此乡。回头南望邈&font=2&size=17&color=222222
text=无极兮,天云一色&font=2&size=17&color=222222
text=徒苍苍。立功不成&font=2&size=17&color=222222
text=,学不就,少壮有&font=2&size=17&color=222222
text=几辰兮,坐视百年&font=2&size=17&color=222222
text=身世驱阴阳。抚掌&font=2&size=17&color=222222
text=狂歌问斯世,茫茫&font=2&size=17&color=222222
text=天地,安得知一知&font=2&size=17&color=222222
text=己兮,试来对酌佑&font=2&size=17&color=222222
text=予觞。予觞掷向东&font=2&size=17&color=222222
text=溟水,东溟之水万&font=2&size=17&color=222222
text=队起狂澜。予觞掷&font=2&size=17&color=222222
text=向西山雨,西山之&font=2&size=17&color=222222
text=雨一阵何汪洋。予&font=2&size=17&color=222222
text=觞掷向北风去,北&font=2&size=17&color=222222
text=风扬沙走石飞殊方&font=2&size=17&color=222222
text=。予觞掷向南天雾&font=2&size=17&color=222222
text=,雾中有人开口一&font=2&size=17&color=222222
text=饮蘧然醉。天地宇&font=2&size=17&color=222222
text=宙浑相忘,予不醉&font=2&size=17&color=222222
text=矣,予行予志。男&font=2&size=17&color=222222
text=儿自古事桑蓬,何&font=2&size=17&color=222222
text=必穷愁泣枌梓。&font=2&size=17&color=222222

gâm thơ là một loại hình kết hợp giữa văn chương và ca nhạc, và là loại hình nghệ thuật tôi hoàn toàn không biết gì. Những điệu ngâm Sa mạc, Bồng mạc, ca trù, ngâm Kiều, Tao đàn… tôi hoàn toàn mù mịt, dù trong nhà từ nhỏ được không ít lần thưởng thức ngâm thơ. Xin post ở đây một bản ngâm thơ tôi được biết, cũng là bài ba tôi thường ngâm mỗi lúc cao hứng, ngà ngà say. Đây là một bài thơ rất có giá trị trong văn học sử Việt Nam cận đại, và câu chuyện về người tác giả (dịch giả) của nó cũng bị cố tình lãng quên, không mấy ai được biết đến!

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường, Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương. Trời Nam nghìn dặm thẳm. Non nước một màu sương. Chí chưa thành, danh chưa đạt. Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc? Trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát. Nghiêng bầu mà hỏi. Đất trời mang mang ai người tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu? Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn! Rót về Tây phương, mưa Tây phương từng trận chứa chan. Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá dương! Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say? Lòng ta ta biết, chí ta ta hay. Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, Hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Cũng lại là một người con của làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam, vùng đất địa linh nhân kiệt số một Việt Nam, Nguyễn Bá Trác tham gia phong trào Đông Du, trở về nước năm 1914, ông cùng Phạm Quỳnh duy trì tờ Nam Phong tạp chí. Sau đó, ông làm Tuần phủ Quãng Ngãi, rồi Tổng đốc Thanh Hóa, Bình Định. Ông bị Việt Minh xử bắn lúc họ cướp chính quyền, ở Huế năm 1945. Tên tuổi Nguyễn Bá Trác không được “chính sử” nhắc đến, nhưng chỉ nhờ vào một bài thơ Hồ Trường, cốt cách, chí khí con người ông vẫn còn được truyền tụng và ngưỡng mộ đâu đấy, như đại diện của một lớp “những người muôn năm cũ”.

Đến nay, đã có đủ cơ sở để tầm nguyên lời thơ Hồ Trường. Có thể đọc nguyên văn phần nghiên cứu của tác giả Phạm Hoàng Quân ở đây. Bài thơ Hồ trường – hóa ra lại là phần lời của một bài hát không tên, tạm gọi là Nam Phương ca khúc – được đăng tải trong thiên ký sự Hạn mạn du ký của tác giả Nguyễn Bá Trác trên Nam Phong tạp chí, phần chữ Hán (từ số 22 đến số 35, năm 1919 – 1920); sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong (từ số 38 đến số 43, năm 1920 – 1921). Nam phương ca khúc nằm ở chương 10 trong thiên ký sự này.

Vào khoảng năm 1912, khi lưu lạc ở Thượng Hải, tác giả gặp một người đồng hương cùng chí hướng, người này có giọng hát hay (giọng Quảng Đông). Một đêm nọ, hai người đi uống rượu. Rượu ngà ngà, Nguyên quân đứng dậy mà hát, ở bàn bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, được trả lời: Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam, họ Lưu nói: nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, nam phương mà có điệu hát đến thế ru? Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ xem.

Nam phương ca khúc là một bài ca ấy không rõ tựa đề, không biết tác giả, Nguyễn Bá Trác đã chép lại toàn vẹn trong Hạn mạn du ký. Và khi Hạn mạn du ký được sang chữ Việt thì lời ca này đã được dịch rất thoát, linh động nương theo âm điệu tiếng Việt và có chỗ thêm tứ có chỗ bớt lời, khéo giữ được cái thần thái hào sảng của nguyên tác để có được một bài Hồ Trường như chúng ta được biết. (Hình bên phải: phần lời Hán văn của Nam Phương ca khúc, in trong Nam Phong tạp chí).