mạch thượng tang

Tương cố bất tương kiến,
Thanh thanh mạch thượng tang.
Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý quân tâm thuỳ đoản tràng?

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2016, đâu đó trên đường Trường Sơn, Nghĩa Đàn, Nghệ An, một vùng đất đỏ bazan rất phì nhiêu, nhiều nông trường trồng trọt, chăn nuôi có thể tổ chức sản xuất lớn.

vũ hoàng chương

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ!

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2015, bên bờ sông Lam. Nhổ neo rồi thuyền ơi, xin mặc sóng, Xô về đông hay giạt tới phương đoài, Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng, Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi!

bắc hành – 2017, phần 17

ành trình xuôi Nam tiếp tục đi qua địa phận tỉnh Nghệ An, xuôi về Vinh, một đô thị tấp nập, hiện đại, có phần giống Đà Nẵng nhiều năm về trước. Ở đó, lại gặp gỡ được một số con người thú vị, nửa mới nửa cũ, hăm hở đón nhận những điều mới, nhưng vẫn còn đó một chút dè dặt, suy xét, tôn trọng nét xưa. Chính trong những điều mới & cũ ấy, ta mới nhận ra đâu là bản lĩnh thật sự của con người, của một vùng đất! Leo lên núi Dũng Quyết, tìm dấu vết của Phượng Hoàng trung đô năm nào.

Chỉ thấy miếu thờ vua Quang Trung được xây dựng theo lối giả cổ, nhàm chán. Lịch sử là một quá trình vận động biến đổi liên tục, là một điều thú vị khi nhà vua Quang Trung muốn đặt kinh đô tại Vinh, Nghệ An này, ông không xem vùng đất từ Nha Trang trở vào là “đất cũ”, là một phần của nước Việt. Thật đáng buồn khi đa số người Việt bây giờ nhìn nhận lịch sử theo cách tách rời sự việc ra khỏi bối cảnh của nó, “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, như một lũ “ngáo” chẳng hiểu gì về di sản của ông cha.

Một đoạn còn thiếu chưa “thăm dò” trong các chuyến xuyên Việt là khúc bờ biển huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (biển Thiên Cầm). Đến đây trong một buổi chiều mưa mù khá lạnh, thuỷ triều rút cạn hết nên quan sát được hình dáng cửa biển rất hẹp, dòng sông Lạc Giang chảy ven chân núi Thiên Cầm, cảnh quan thật là hữu tình. Lang thang một chút trong xóm chài nghèo Cẩm Trung với những âu thuyền nhỏ ven sông. Dọc các làng chài khắp cả Việt Nam, luôn thấy tồn tại song song 2 dạng thuyền đánh cá.

Một dạng hiện đại, lớn, hao hao giống nhau dùng để đánh bắt xa bờ. Một dạng cổ điển, nhỏ hơn, dùng để đánh bắt gần bờ. Dạng thứ hai này thì mỗi nơi mỗi kiểu, không đâu giống đâu trên khắp Việt Nam. Một số là những dạng thân thuyền thuần tuý truyền thống VN, một số vẫn còn mang nét truyền thống, nhưng đã được cái tiến, thay đổi ít nhiều. Người ngư dân, với kinh nghiệm của riêng mình, thêm vào những sửa đổi, mỗi nơi mỗi khác, như thuyền máy có cái xiếm đã thấy ở vùng biển Quất Lâm.

Hay những ghe đi biển thon dài của Trung Trung bộ được làm ngắn lại, rộng ra, với phần đuôi vát để thích hợp hơn với chạy máy và tăng tải trọng hữu ích. Tần ngần hồi lâu trước một con thuyền vừa mới hạ thuỷ, vết sơn mới tinh, thậm chí còn chưa kịp vẽ mắt và sơn số tàu, những đường cong tuyệt đẹp. Tuy không phải là những thân thuyền nguyên thuỷ, và không hoàn toàn hài lòng với một số chi tiết, nhưng vẫn vui khi thấy rằng, người ngư dân vẫn duy trì, bảo lưu những đường nét mà họ cho là tốt đẹp.

bắc hành – 2017, phần 6

ây là lần thứ 3 trở lại vùng hạ lưu sông Lam, một dải từ cửa Hội đến cửa Lò (sông Cấm), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Có những điều khó diễn tả nên lời, nhưng nhìn bến cảng, nơi neo đậu thuyền, cách tổ chức đường sá đi lại, có một cái gì đó rộng rãi, ngay ngắn, sạch sẽ… thể hiện cá tính có tổ chức của người dân nơi đây. Vùng cửa Hội, tàu bè neo đậu ven sông hay trong những kênh rạch một cách ngay hàng thẳng lối, không dầy đặc lộn xộn như phần nhiều các cảng cá khác của Việt Nam.

Rồi lại chạy dọc ven biển đến Bãi Lữ, cửa Lạch Vạn, thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Rồi lại lang thang vùng cửa Lạch Quèn, làng muối Quỳnh Long, vùng cửa Còn, nay là thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Rồi theo quốc lộ 36 thăm cảng nước sâu Nghi Sơn, tới đây là đã bước sang địa phận huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá. Bỏ qua một đoạn từ Sầm Sơn, thành phố Thanh Hoá (đã thăm thú kỹ trong chuyến xuyên Việt năm ngoái) theo quốc lộ 10 đi về hướng thị trấn Phát Diệm, Ninh Bình.

Từ Phát Diệm, qua đò Mười và đò Cau, hai chuyến phà nằm rất gần nhau băng qua sông Đáy và sông Ninh Cơ là đã vào địa phận tỉnh Nam Định. Trong chuyến xuyên Việt năm trước, đã tham quan kỹ vùng Phát Diệm, và cũng đã để ý phần nào đến hệ thông sông ngòi, kênh rạch, cống ngăn mặn và tưới tiêu thuỷ lợi nơi đây. Nhưng càng đi sâu vào vùng duyên hải của các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình… mới cảm nhận được hết tầm vóc và quy mô của các công trình thuỷ lợi này!

So với miền Nam, thì sông ngòi kênh rạch vùng này không thể bì được về độ lớn và độ phức tạp. Nhưng so về các công trình tạo tác của con người: đê, kè, đập, cầu, cống, ngòi… bao nhiêu thế hệ đã dày công xây dựng, thì nơi đây quả thật đáng kinh ngạc. Những công trình thuỷ lợi lớn như thế này thể hiện một đời sống cộng đồng lâu đời, có quy hoạch và tổ chức nghiêm chỉnh, có sự phân công lao động chi tiết, có những luật lệ, quy ước rõ ràng về đời sống, về tổ chức làng trên xóm dưới.

Thêm nhiều điều đáng suy nghĩ về cuộc sống của đồng bằng Bắc bộ xưa, những lề luật, khuôn khổ của nó, những mâu thuẫn giữa duyên hải và nội địa, giữa trung ương và địa phương, giữa nhu cầu duy trì ổn định cộng đồng và nhu cầu sáng tạo, phát triển những cái mới. Vùng duyên hải Bắc bộ này cũng có nhiều làng Công giáo lâu đời, nhà thờ mới cũ mọc lên san sát… Hành trình tiếp tục đi ven biển, về hướng nhà thờ đổ Nam Định, thị trấn Quất Lâm và vườn quốc gia Xuân Thuỷ.

bắc hành – 2015, phần 10

Đường về miền xuôi, biết bao đò bao quán mới,
Đường dài mà vui, hỡi người bạn đường nặng vai.

Người về miền xuôi, Trường ca Con đường cái quan - Phạm Duy 

ẫn còn muốn rong ruổi thêm nữa trên các nẻo đường biên giới phía Bắc, nhưng chắc phải để dành cho những chuyến sau. Bắt đầu hành trình ngược trở lại, từ Hà Giang qua Tuyên Quang xuống Hà Nội để về lại Sài Gòn. Từ miền núi qua trung du, xuôi theo dòng sông Lô qua Bình Ca, Đoan Hùng, Việt Trì… rồi về với đồng bằng. Tuyên Quang là miền đất có rất nhiều địa danh lịch sử, danh lam thắng cảnh, nhưng đã có kế hoạch cho Tuyên Quang trong một chuyến đi khác.

Quá Ninh Bình, vào địa phận Bỉm Sơn, Thanh Hoá, nhận thấy QL1 mùa này đường quá xấu và đông đúc, quyết định rẽ nhánh về Nam bằng đường Hồ Chí Minh, nhân tiện ghé qua thăm thành nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc, một biểu tượng của những ước vọng, dự tính non trẻ, dở dang, không thành của Việt tộc… Đường HCM khúc này rất tốt, rộng, thẳng, độ dốc vừa phải, vắng người và xe, lại ít gió bụi, tốc độ lúc nào cũng có thể giữ trên 60 kmph, chỉ hơi vòng vo hơn một chút so với QL1.

Cả một vùng trung du, miền núi phía tây khu 3 (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) không như tôi nghĩ ban đầu, phong cảnh xanh mướt, đất đỏ bazan màu mỡ, hoạt động nông nghiệp quy cũ, làng quê có vẻ trù phú. Đôi chỗ, người nông dân đã liên kết xoá ranh giới đất đai từng nhà để trồng trọt và sản xuất trên quy mô lớn hơn, nương rẫy dài nối tiếp nhau… Phong cảnh tuy không thể đặc sắc như vùng Tây Bắc, nhưng cũng có nét thú vị riêng. Thật là: đi một ngày đàng học một sàng khôn vậy!

Chặng 10: Hà Giang ⇒ Việt Quang ⇒ Tuyên Quang ⇒ Đoan Hùng ⇒ Phú Thọ ⇒ Vĩnh Yên ⇒ Hà Nội ⇒ Phủ Lý ⇒ Ninh Bình ⇒ Tam Điệp ⇒ Hà Trung ⇒ Vĩnh Lộc ⇒ Cẩm Thuỷ ⇒ Ngọc Lặc ⇒ Lam Sơn ⇒ Yên Cát ⇒ Nghĩa Đàn

Sài gòn ⇔ Hà nội – 2015
Sơn Tây – 2015
Yên Bái – 2015
Lào Cai – 2015
Hà Giang – 2015
Đồng Văn – 2015
Mèo Vạc – 2015