bắc hành – 2017, phần 7

hị trấn Quất Lâm không phải chỉ có điều mà ai cũng biết tới, thực sự đây là một cảng cá, vùng nuôi trồng thuỷ sản và là nơi đóng tàu khá lớn. Những con tàu cá đóng bằng gỗ ở đây nhìn khá bắt mắt, được đóng theo một lối nửa hiện đại, nửa truyền thống, nghĩa là vẫn xây dựng một số (khá ít) khung cơ bản trước rồi mới ghép ván vào, nhưng tàu hoàn toàn không có ki (sống lưng), chỉ có một ít đà, sống ở gần mũi và gần đuôi để chịu lực, ở dưới đáy tàu chỉ có duy nhất một lớp ván gỗ.

Từ Quất Lâm, tiếp tục đi dọc theo triền đê biển đến vườn quốc gia Xuân Thuỷ. Lại là những hệ thống đê điều, cống, ngòi… thể hiện sự dày công tạo tác của con người. Ngoài cũng phía biển là những bờ kè chắn sóng, trong một chút là những bãi bồi với rừng ngập mặn xen lẫn với bãi cát. Trong nữa là đê biển, có nhiệm vụ ngăn mặn, với nhiều cống xả nước từ sông ra. Bên trong đê là vùng nuôi tôm, trong nữa là vùng trồng lác, cói (dệt chiếu), trong nữa mới đến vùng trồng lúa và những loại hoa màu khác!

Một phát hiện rất đáng ngạc nhiên về sự sáng tạo của người ngư dân, lần đầu tiên tôi thấy ghe biển chạy máy mà có cái xiếm – centerboard (thanh gỗ màu đỏ, hình 5, 6) như ghe buồm! Trò chuyện với một bác ngư dân và xác nhận đó chính là cái xiếm, đâm xuống rất sâu đằng mũi ở vị trí ngay sát mớn nước. Và không phải chỉ có một chiếc, thuyền đi biển vùng này đồng loạt đóng như thế. Có thể vì cấu trúc thuyền đáy tròn, thân ngắn và rộng nên cần xiếm để cho bớt lắc và đi thẳng hơn.

Từ Giao Thuỷ, qua phà Cồn Nhất bắc qua sông Hồng, bên kia đã là tỉnh Thái Bình. Mất một vài giờ đi lạc trong cái ma trận những cầu cống, đê điều và sông ngòi này… những hệ thống đường phức tạp mà Google Map chưa kịp cập nhật đến. Cũng phải nói thêm rằng, đồng bằng Bắc bộ, mà điển hình là tỉnh Thái Bình, đã đô thị hoá cao độ, nhiều nơi không thể phân biệt đâu là nông thôn, đâu là phố thị… nhà cửa và công trình xây dựng san sát. Loay hoay một hồi mới đến được thị trấn Tiền Hải.

Rồi qua sông Trà Lý, sông Diêm Hộ đi về thị trấn Diêm Điền, là một thị trấn biển nhỏ, nhưng có một vẻ “miền Nam” đáng kinh ngạc, có thể dễ dàng tìm thấy những đồ ăn thức uống phổ biến của phía Nam ở đây: cà phê, cơm tấm, bánh xèo, chè Huế, etc… Rồi từ đây, qua sông Hoá (một nhánh của sông Thái Bình) là đã vào địa phận Hải Phòng, dừng lại một lúc để mua một ít thuốc Lào Tiên Lãng 😀, rồi lại theo tỉnh lộ 354 qua cầu Khuế (sông Văn Úc), theo tỉnh lộ 402 đi về phía bán đảo Đồ Sơn.

bắc hành – 2017, phần 6

ây là lần thứ 3 trở lại vùng hạ lưu sông Lam, một dải từ cửa Hội đến cửa Lò (sông Cấm), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Có những điều khó diễn tả nên lời, nhưng nhìn bến cảng, nơi neo đậu thuyền, cách tổ chức đường sá đi lại, có một cái gì đó rộng rãi, ngay ngắn, sạch sẽ… thể hiện cá tính có tổ chức của người dân nơi đây. Vùng cửa Hội, tàu bè neo đậu ven sông hay trong những kênh rạch một cách ngay hàng thẳng lối, không dầy đặc lộn xộn như phần nhiều các cảng cá khác của Việt Nam.

Rồi lại chạy dọc ven biển đến Bãi Lữ, cửa Lạch Vạn, thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Rồi lại lang thang vùng cửa Lạch Quèn, làng muối Quỳnh Long, vùng cửa Còn, nay là thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Rồi theo quốc lộ 36 thăm cảng nước sâu Nghi Sơn, tới đây là đã bước sang địa phận huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá. Bỏ qua một đoạn từ Sầm Sơn, thành phố Thanh Hoá (đã thăm thú kỹ trong chuyến xuyên Việt năm ngoái) theo quốc lộ 10 đi về hướng thị trấn Phát Diệm, Ninh Bình.

Từ Phát Diệm, qua đò Mười và đò Cau, hai chuyến phà nằm rất gần nhau băng qua sông Đáy và sông Ninh Cơ là đã vào địa phận tỉnh Nam Định. Trong chuyến xuyên Việt năm trước, đã tham quan kỹ vùng Phát Diệm, và cũng đã để ý phần nào đến hệ thông sông ngòi, kênh rạch, cống ngăn mặn và tưới tiêu thuỷ lợi nơi đây. Nhưng càng đi sâu vào vùng duyên hải của các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình… mới cảm nhận được hết tầm vóc và quy mô của các công trình thuỷ lợi này!

So với miền Nam, thì sông ngòi kênh rạch vùng này không thể bì được về độ lớn và độ phức tạp. Nhưng so về các công trình tạo tác của con người: đê, kè, đập, cầu, cống, ngòi… bao nhiêu thế hệ đã dày công xây dựng, thì nơi đây quả thật đáng kinh ngạc. Những công trình thuỷ lợi lớn như thế này thể hiện một đời sống cộng đồng lâu đời, có quy hoạch và tổ chức nghiêm chỉnh, có sự phân công lao động chi tiết, có những luật lệ, quy ước rõ ràng về đời sống, về tổ chức làng trên xóm dưới.

Thêm nhiều điều đáng suy nghĩ về cuộc sống của đồng bằng Bắc bộ xưa, những lề luật, khuôn khổ của nó, những mâu thuẫn giữa duyên hải và nội địa, giữa trung ương và địa phương, giữa nhu cầu duy trì ổn định cộng đồng và nhu cầu sáng tạo, phát triển những cái mới. Vùng duyên hải Bắc bộ này cũng có nhiều làng Công giáo lâu đời, nhà thờ mới cũ mọc lên san sát… Hành trình tiếp tục đi ven biển, về hướng nhà thờ đổ Nam Định, thị trấn Quất Lâm và vườn quốc gia Xuân Thuỷ.