động tam thanh

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc xa gần pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2015, trong mấy năm vừa qua, có đến 2 năm ăn Tết xa nhà, “trên đường thiên lý” tại thành phố Lạng Sơn. Có khá nhiều kỷ niệm đáng nhớ tại vùng đất “biên viễn” này!

bắc hành – 2017, phần 12

au nhiều do dự và cân nhắc, hành trình quyết định xuôi về miền đồng bằng thay vì miền núi. Cách Lạng Sơn không xa là Hải Dương, một tỉnh với nhiều di tích gắn liền với nhà Trần và nhất là Phật giáo thời Trần… Hành trình xuôi Nam lại đi qua địa phận ải Chi Lăng như năm ngoái, một vùng nay trồng nhiều mãng cầu (miền Bắc gọi là quả na), đến địa phận thị trấn Kép & Vôi (Bắc Giang) thì vào quốc lộ 37 đi về phía Chí Linh, mà sườn tây của thị xã là vùng Vạn Kiếp, thái ấp của Hưng Đạo vương xưa kia.

Vạn Kiếp nằm không xa Lục Đầu giang, là nơi hội tụ của 6 con sông: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Môn, sông Thái Bình. Phải đến đây thì mới hiểu những ghi chép mơ hồ, thiếu chi tiết thực tế trong sử sách về 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của nhà Trần, phần nhiều các trận đánh lớn đều diễn ra trên địa hình sông, đầm lầy, biển để lợi dụng sức mạnh của thuỷ binh, thế mạnh của nhà Trần, và hạn chế, né tránh bớt sức mạnh của kỵ binh Mông Cổ.

Ghé thăm đền Kiếp Bạc, thuộc địa phận 2 làng Kiếp và Bạc, thái ấp xưa kia của Hưng Đạo Vương. Dù đền thờ Trần Quốc Tuấn có tại rất nhiều nơi trên khắp cả nước (như đền Trần ở Nam Định), nhưng thiết nghĩ đền Kiếp Bạc ở Vạn Kiếp này mới là công trình tiêu biểu nhất. Dù thời gian đã xoá mờ phần nhiều những đường nét hoa văn, trang trí, những nét chữ xưa, nhưng đại để cũng hình dung ra được phần nào địa thế rất đẹp của công trình, trong chính điện, 1 tấm hoành phi lớn đề: Trần triều hiển thánh.

Cách đền Kiếp Bạc không xa là chùa Côn Sơn, công trình gắn liền với Nguyễn Trãi, người chọn nơi đây là nơi an dưỡng, trí sĩ những năm cuối đời. Nhưng chùa Côn Sơn ra đời từ rất lâu trước thời Nguyễn Trãi, Côn Sơn, cùng với Yên Tử và Quỳnh Lâm là 3 trung tâm lớn của Trúc Lâm thiền phái thời Trần. Chùa Côn Sơn phải nói là ngôi chùa cổ đẹp và hoành tráng nhất mà tôi từng thăm thú, dĩ nhiên không kể các công trình chùa chiền xây bằng kỹ thuật hiện đại (bê – tông giả gỗ) sau này.

Chùa nằm dưới chân một ngọn núi thấp, địa thế rộng rãi, bằng phẳng, tiền môn, cổng chính, tiền điện vẫn là những công trình cổ được tôn tạo lại. Nhưng chính điện và hậu điện đã không còn tồn tại được với thời gian, và đã được xây dựng mới dựa trên nguyên bản cũ, từ hình dáng cho đến kích thước, nên đại khái tạo nên một cảnh quan rộng rãi, hài hoà, đẹp mắt. Đứng giữa sân chùa này, tự dưng nhớ và đọc lại được suôn sẻ nguyên bản Hán Văn của Côn Sơn ca, một bài ngỡ đã quên từ lâu! 😀

bắc hành – 2017, phần 11

ời Trà Cổ nhưng trong lòng vẫn không hết băn khoăn tại sao những cộng đồng di dân rải rác dọc khắp bờ biển Việt Nam đều mang một đặc tính chung là rất cô lập và cực kỳ bảo thủ, những ngữ âm địa phương ít nhiều giống nhau được bảo lưu với rất ít đổi thay trong suốt hơn 500, 600 năm lịch sử. Trong khi đó, những cộng đồng di dân về phía miền núi lại thường hoà nhập vào với môi trường bản địa tốt hơn, trong suy nghĩ của tôi, lý ra, điều ngược lại đúng hơn mới phải!?

Đã đến với Trà Cổ, Móng Cái, vùng đất địa đầu tổ quốc, hành trình quay ngược lại theo quốc lộ 4B đi về phía Lạng Sơn, cách không xa chỉ chừng hơn 100 km. Nhưng trước khi đến thành phố Lạng Sơn, ghé qua bản Chu, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, nơi vẫn còn lưu giữ một ít lịch sử di dân của tộc Việt. Ở miền biên viễn này, có những thôn xóm nhìn vào như là của người Tày, từ nhà ở, trang phục cho đến phong tục tập quán… nhưng cư dân ở đó lại không nói tiếng Tày, chỉ nói tiếng Việt.

Đó là con cháu của những cư dân Việt di cư đến nhiều thế kỷ trước, như nhà họ Vi, vốn gốc Đông Thành, Nghệ An, chuyển đến châu Lộc Bình này từ thời Lê Lợi. Đến đời cụ tổng đốc Vi Văn Định là 14 đời làm thổ ti cai quản xứ Cao Lạng (Cao Bằng, Lạng Sơn). Đó là một chính sách giữ đất nhất quán của các triều đại phong kiến xưa, di dân người Việt, dùng người miền núi quản mặt núi, dùng người miền biển giữ mặt biển! Sau bao thời gian chiến tranh tàn phá, nay chỉ còn duy nhất một chiếc cổng!

Bản Chu nằm trong một thung lũng nhỏ sườn đông nam của đỉnh núi Mẫu Sơn, một cộng đồng Tày – Việt với nhiều di tích hoang tàn (bản bị tàn phá nhiều nhất trong chiến tranh biên giới năm 1979, nằm cách đường biên chỉ tầm 6, 7 km theo đường chim bay), nhưng vẫn còn đây đó một số vết tích cổ: giếng nước, tường thành, bờ ao, các công trình phòng thủ… Và nhất là những ngôi nhà cổ xây gạch hai tầng khang trang bề thế, tất cả giúp hình dung nên những nề nếp sinh hoạt xưa.

Hành trình tạm dừng đón Tết ít ngày ở thành phố Lạng Sơn, thời gian trôi qua ở thành phố “mậu biên” này, những tiếp xúc nhiều hơn với người địa phương, những cảm nhận thực hơn về cuộc sống, những mối quan tâm của giới trẻ, những suy nghĩ toan tính của lớp già… Có nhiều cân nhắc về những chặng kế tiếp của hành trình, có một sự phân vân không hề nhẹ giữa ước muốn đi lên miền núi đầy màu sắc ở phía Bắc, hay xuôi về những cộng đồng Việt giàu truyền thống ở đồng bằng…

bắc hành – 2016, phần 34

ừ Lạng Sơn qua Bắc Giang, Bắc Ninh về Hà Nội theo quốc lộ 1A, con đường đi trong một “thung lũng” rộng nằm giữa hai dãy núi, càng lúc càng hẹp dần, thắt lại như một cái cuống phễu ở quá thị trấn Chi Lăng một chút. “Ải Chi Lăng” bây giờ chỉ là đôi bờ kè đá nhỏ đánh dấu chỗ hẹp nhất đó. Từ đây bắt đầu vào địa phận tỉnh Bắc Giang đã hầu như là đồng bằng.

Qua thị trấn Lạng Giang, Bắc Giang, nhác thấy một cái biển nhỏ xíu đề: Đoàn An Lão (1 km). Thế nghĩa là E2, F3 (và thực tế là toàn bộ F3) đang đứng chân ở cái thị trấn nằm ngay sát tỉnh Lạng Sơn này, hơi lùi sâu vào nội địa một chút so với điều tôi nghĩ. Và ở đây cũng có dấu hiệu của ít nhất một vài F lẻ khác, không trực thuộc Quân đoàn 2 Hương Giang.

Những địa danh đơn âm đến mức tối thiểu: Vôi, Kép, Lim, Dâu, Đô… những miền đất rất cổ của người Việt. Qua sông Cầu (sông Như Nguyệt), ranh giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Từ đây, có thể thấy đồng bằng Bắc Bộ đang bị đô thị hoá cao độ, các thị trấn nằm san sát nhau, và ngay cả một số làng xã nông thôn nhìn cũng chẳng khác gì phố thị.

Bắc Ninh, Kinh Bắc, Hà Bắc… tên qua những giai đoạn khác nhau, nhưng đều ám chỉ nơi đây, vùng đất phía Bắc, rất gần, chỉ khoảng 20 ~ 50 km tính từ thủ đô Hà Nội. Có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá ở vùng đất có lịch sử lâu đời nằm ngay sát kinh kỳ này. Dừng chân ít ngày, thăm thú một số nơi, trước khi bỏ qua những vùng đất đã biết để đi suốt về Nam.

bắc hành – 2016, phần 33

ẫu Sơn, huyện Lộc Bình, cách thành phố Lạng Sơn tầm 30 km, sát với biên giới Trung Quốc. Tuy không quá cao, chỉ khoảng 1500 m, nhưng khí hậu luôn mát lạnh quanh năm. Thực ra có đến hai đỉnh núi nằm cạnh nhau, ngọn thấp hơn vẫn thường gọi là Mẫu Sơn, một đỉnh cao hơn nằm ngay kế bên cạnh (Phụ Sơn!? 😀) nhưng chưa có đường cho xe lên.

Một ngày nắng ấm đẹp trời, đường từ chân núi lên tới đỉnh chỉ khoảng 15 km đường bê tông nhựa nhỏ, không khó đi lắm. Tuy vậy, muốn biết về những đường cung đường quanh co uốn lượn đến mức quái dị, hãy lên gần đỉnh Mẫu Sơn sẽ thấy! Từ trên đỉnh nhìn ra bốn phía trông rất ngoạn mục và mãn nhãn, tiếc một điều là núi trọc, tỷ lệ phủ xanh thấp.

Quay trở lại thành phố Lạng Sơn, bên ly cà phê, cuộc trò chuyện với những người “quen cũ”. Thực ra chỉ có người ở lại là sẽ thay đổi, kẻ ra đi chẳng đổi thay bao giờ. Vì hắn đã chủ động “keep moving” liên tục, để cho con người luôn nhìn sự việc từ những góc độ biến động khác nhau, sur les chemins mouvant, thế nên tâm hồn hắn thì vẫn mãi mãi là như thế!

Từ đây về Hà Nội chỉ 154 km đường thẳng, địa hình núi đồi thấp, các bác bên Bộ quốc phòng sẽ luôn có khối chuyện đau đầu về cái sự “defence in depth” ở một khu vực như thế này! Vẫn còn do dự mong muốn đẩy hành trình đi xa hơn nữa, nhưng năm nay tạm bằng lòng với chừng ấy. Chặng áp cuối của hành trình, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội.

bắc hành – 2016, phần 32

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

ấm hình đầu tiên: quả hồi phơi khô, mùi hương nhẹ nhàng nhưng thật khó phai! Thăm động Tam Thanh, coi như là đi chùa đầu năm. Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị họ vừa nung vôi chính thị là nơi đây 😀! Cái lời nhại ca dao ấy thực ra là tương đối chính xác, cái tượng nàng Tô Thị họ mới đắp lại sau này trông rất nham nhở, chả đâu vào đâu!

Thăm động Tam Thanh xem như đi cho có. Thực ra, càng lúc tôi càng có cảm giác người Việt cái gì cũng thích đồ giả, không thích đồ thật. Một quả đồi bé xíu, xây vài bậc tam cấp, vài cái đình bé tí ti, đặt những cái tên hoành tráng: cổng trời, hang địa ngục, bàn tay Phật, etc… Càng như thế, họ càng không hiểu được cái rộng lớn của thiên nhiên, của núi non, biển cả.

Leo lên pháo đài Đồng Đăng, một công trình bê tông ngầm to lớn và đổ nát. Nơi đây, hơn 700 con người, vừa dân vừa lính, đã tử thủ cho đến người cuối cùng, trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh 1979. Pháo đài Đồng Đăng, ở một quy mô nhỏ hơn, nhưng lại bi thảm hơn, cũng giống như pháo đài Brest trong chiến tranh vệ quốc của người Nga vậy!

Chủ khách sạn, một người lính đặc công 73 tăng cường cho mặt trận Lạng Sơn, sau chiến tranh, đã cưới một cô gái Nùng 15 tuổi và định cư ở đây! Hai vợ chồng cực kỳ hiếu khách, thế nên Tết nhất với tôi không phải thiếu gì. Nhưng đôi khi, chỉ cần một bát nước chè, vài hơi thuốc lào… đang tự biến mình thành một anh chàng Bắc cày, Bắc cầy chính hiệu! 😀