thanh điệu

ói chuyện… chính tả, lần này từ góc nhìn của một kẻ tập tễnh làm nhà ngôn ngữ học 😁. Xưa giờ, dù thi thoảng vẫn viết sai chính tả (thường là do vô ý hay do đánh máy quá nhanh), tôi vẫn chủ trương mọi người viết đúng một thứ chính tả chung! Đó là lẽ hiển nhiên, vì mình viết là cho số đông người khác đọc và xã hội phát triển thì mọi điều cần phải được chuẩn hoá! Cho nên sai thì thi thoảng vẫn sai, nhưng chuẩn thì vẫn cứ phải chuẩn. Thế nhưng vẫn có những suy nghĩ khác, khác với số đông thường nghĩ. Những suy nghĩ bất chợt đến khi trò chuyện với những thiếu nữ Mông ở Đồng Văn và Mèo Vạc, những người đã đi học và nói tiếng Phổ thông còn xịn hơn, còn dể nghe và hay hơn cả tôi, ít nhất là về mặt phát âm!

Hồi trước nghĩ rằng tiếng Việt có 6 thanh sắc (hoặc 5 thanh tuỳ vùng) đã là nhiều lắm rồi, nhưng đến khi lên cao nguyên Đồng Văn, nghe người Mông nói mới biết tiếng Mông ở Việt Nam có đến 7 thanh, tiếng Mông một số vùng ở Trung Quốc có đến… 8 thanh. Thật khó hình dung một ngôn ngữ lại có nhiều thanh điệu như vậy, líu lo còn hơn cả chim hót! 😁 Tiếng Hoa cổ (cổ ở đây là nói thời Đường), lấy âm địa phương Trường An làm chuẩn, theo ghi nhận của “Thiết vận”, có 6 thanh. Thiết vận (phiên thiết) là gì thì người học chữ Hán mới biết, nhưng nôm na là một phương pháp ghi âm của người xưa, xuất hiện từ thời Tuỳ, Hán, thậm chí có thể còn sớm hơn. 6 thanh của tiếng Hán cổ đó, miễn cưỡng có thể “ánh xạ” vào 6 thanh của tiếng Việt.

Tiếng Mông 8 thanh, tiếng Việt 6 thanh, tiếng Hoa hiện đại chỉ còn 4 thanh… Nói điều này sẽ có người phản đối, nhưng một nền văn minh càng khép kín, càng lạc hậu thì ngôn ngữ càng có nhiều thanh sắc! 😁 Đó là vì càng hiện đại, càng có nhu cầu giao tiếp đến lượng lớn thính giả, thì ngôn ngữ càng phải bỏ bớt những “khu biệt” địa phương, vùng miền, dần dần bỏ bớt số thanh điệu. Tại thời điểm lưu truyền vào Việt Nam, Thiết vận đã ghi nhận những phát âm không còn tồn tại, vì nó là một hệ thống ký âm đã có từ trước đó rất lâu. Có nghĩa là tiếng Hoa thời Đường đã khác thời Hán rất nhiều, nhiều “ký âm” chỉ còn tồn tại trong sách vở chứ không còn trên thực tế! Điều tương tự cũng đúng cho tiếng Việt và hệ thống ký âm “Quốc ngữ”.

Hệ thống ký âm Quốc ngữ, từ khi hình thành, lấy “chuẩn” là một địa phương đâu đó ở vùng Quảng Bình, khá nhiều ký âm cổ cũng đã không còn tồn tại ngay tại gốc Quảng Bình, ví dụ như: “các” & “cát”, “ngan” và “ngang”… theo như quan sát hiện tại hầu như đã đồng nhất. Các địa phương càng cổ, càng bảo thủ (điển hình là một dải khu 4, từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Huế) thì sự “khu biệt” càng lớn. Tiếng Hoa hiện đại đã phát triển đến một mức mà rất nhiều ký âm không thể phân biệt được, không những “mam” và “man” đọc như nhau, mà “man” và “nan” cũng đọc như nhau, nghĩa là “m” và “n” đọc như nhau, dù đứng đầu hay cuối con chữ. Suy nghĩ lan man… nhận thấy rằng sự tiến hoá của tự nhiên, nó khác xa những điều người ta thường nghĩ!

Nghe có vẻ hơi ngược đời, nhưng tôi nghĩ rằng, không nhất thiết phải chấp nhất quá triệt để vào hệ thống ký âm “Quốc ngữ”, vì nguyên thuỷ, nó đã không phải là một hệ thống ký âm phổ quát (mà thực sự thì làm gì có một thứ tiếng Việt phổ quát!?), và quan trọng nhất là xu hướng tiến hoá của ngôn ngữ thường không bảo lưu những khác biệt quá “tinh vi, nhỏ nhặt”. Viết đúng chính tả vẫn là việc cần phải làm, nhưng bên cạnh đó, sự phát triển của “chuẩn hoá”, cái suy nghĩ băn khoăn cho rằng tự nhiên là “deterministic” hay “non – deterministic”, là “tất định” hay “bất định”, vẫn luôn còn đó (tức là Einstein sẽ vẫn luôn đối nghịch với Heisenberg). Dù gì đi nữa, ngôn ngữ vẫn sẽ phát triển theo hướng âm luật dần đơn giản hoá, dần thống nhất!

nợ tầm dương

Nếu anh còn trẻ như năm cũ,
Quyết đón em về sống với anh.
Những khi chiều vàng phơ phất đến,

Anh đàn em hát níu xuân xanh.

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2016 tại thị trấn Đồng Văn, đây là lần thứ 3 trở lại Hà Giang. Là ngày Tết, những cô gái người Mông, Dao, Dáy… đều xúng xính trong những bộ quần áo đẹp nhất.

ô quý hồ

Chặng đường ta đã đi qua,
Hiếm hoi mới gặp đoá hoa thắm hồng.
Ngẩng đầu lên, hỏi mênh mông,
Chỉ nghe ngọn gió đằng đông thổi về.

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2015, dưới chân đèo Ô Quý Hồ, gần ngã ba Tam Đường, Phong Thổ, Lai Châu. Hai thiếu nữ người dân tộc Mông rực rỡ đến sặc sỡ trong trang phục truyền thống ngày Tết!

tử mãn chi

Hương thơm, tìm đã muộn rồi,
Chẳng nên buồn bã oán thời xuân qua.
Gió lay, hồng rụng hết hoa,
Chỉ còn lá biếc cùng là quả thôi!

ình chụp trong chuyến xuyên Việt lần đầu tiên năm 2014, và cũng là lần đầu tiên đến với Đồng Văn, Hà Giang. Và những năm tiếp sau đó, còn trở đi trở lại đây 4 lần nữa, một vùng đất quyến rũ, đầy mầu sắc!

tiếng đàn môi sau bờ rào đá

ho những ai say mê cảnh quan, con người vùng đất Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang, những ai đã ghé qua Quản Bạ, Sủng Là, Phố Cáo… đã xem phim Chuyện của Pao, những ai yêu thích con người và văn hoá Mông… Trước khi tới Hà Giang, tôi thường đọc những chuyện về trai gái Mông tỏ tình với nhau, họ dùng đàn môi để nói chuyện, ví dụ như:

Khi người con trai gặp người con gái, họ rút cây đàn môi ra nói chuyện, sau khi nói chuyện, nếu thấy người con trai dễ thương, cô gái rút cây đàn môi trả lời lại rồi hẹn nhau ở một nơi nào đó ở trong làng.

Và gặp nhau, cô gái sẽ nhẹ nhàng rung tiếng đàn môi: Anh là ai? Anh ở đâu đến? Em chưa biết tên, em không nói chuyện…

Đọc những lời mô tả có vẻ rất văn chương ấy, tôi đã nghĩ rằng tác giả chỉ thi vị hoá, nói quá lên về cách giao tiếp, đơn giản là trai gái chỉ thổi sáo, đánh đàn cho nhau nghe, thế thôi! Nhưng đã đến Hà Giang 3 lần, đã gặp và nói chuyện với nhiều người Mông, tôi chợt có suy nghĩ: hay đúng là họ có thể nói chuyện, truyền tải thông tin bằng tiếng đàn thật!?

Xem clip dưới đây, tác giả dùng đàn môi để “nói tiếng Anh”, bạn sẽ hiểu làm sao có thể dùng đàn môi để nói chuyện. Xét đến việc tiếng Mông là một ngôn ngữ có đến 8 hoặc 7 thanh điệu (tuỳ vùng), lời nói nghe còn du dương hơn cả tiếng Việt, không monotone như tiếng Anh. Hãy tưởng tượng trong đêm thanh vắng, những lời tự tình ấy vang đi khắp núi rừng.

Kỹ thuật lồng ghép tiếng nói trong âm nhạc này cũng đã được trình bày bởi TS. Trần Quang Hải, nhưng tiếc là tôi chưa tìm được các tài liệu minh hoạ chính xác. Kỹ thuật này đã được áp dụng ở châu Âu để cho những người có khiếm khuyết về thanh quản có thể “phát âm”, diễn đạt được điều mình muốn nói.

bắc hành – 2016, phần 25

ài ngày trước đây, trong các bản làng của người Mông, những người phụ nữ nhất loạt đem quần áo ra giặt, vừa làm việc, vừa trò chuyện râm ran bên bờ suối, như thế là cái Tết đã đến rất gần. Một số còn dùng cách giặt rất xa xưa với chày, tưởng chỉ còn bắt gặp trong phim cổ trang, hay trong thơ cổ, ví dụ như: Bạch Đế thành cao cấp mộ châm (Đỗ Phủ).

Đến hôm nay thì thỉnh thoảng đã bắt gặp một vài người đàn ông Mông say rượu ngủ bên vệ đường, đâm đầu vào bụi rậm, vắt vưởng trong những tư thế lạ lùng nhất. Thanh niên, thiếu nữ, trong những bộ y phục đẹp nhất, bắt đầu vào ra, làng trên xóm dưới rủ nhau đi chơi Tết. Tôi thấy cả một ông già người Tày với bút lông mực Tàu đang chăm chú viết câu đối Tết.

Thoáng nghĩ, khá khen cho ai đặt cái tên Đồng Văn, vì Đồng Văn tức là… “đồng văn” 😀. Đến bây giờ vẫn có cả hơn chục dân tộc, ngôn ngữ khác nhau cùng sống trên cao nguyên này: Mông, Dao, Tày, Giáy, Lô Lô, Việt, Hoa… Ngày xa xưa, khi tiếng Kinh và chữ Quốc ngữ chưa phải là chuẩn chung, thì những giao tiếp hình thức quan trọng đều phải dùng chữ Hán.

Cao nguyên Đồng Văn những ngày này thời tiết ổn định trong khoảng 5 ~ 6 ℃, thấp hơn những vùng khác trong tỉnh Hà Giang 6 ~ 10 độ, trời nhiều sương mù, nhưng ít mưa. Lạnh, nhưng vẫn còn dễ chịu, vì từ 4℃ trở xuống, chạy xe nhiều giờ ngoài đường gây ra cảm giác buốt, rát nghiêm trọng, và chiếc xe của tôi cũng chạy không trơn tru lắm ở nhiệt độ đó.

bắc hành – 2016, phần 21

ồng Văn năm nay lạnh hơn mọi năm, nhiệt độ giữa trưa tầm 5, 6 ℃, ban đêm khoảng 2, 3 ℃, nhưng cảm giác như rất lạnh vì gió thổi vi vút không ngớt. Những ngày sắp đến dự báo còn rét hơn nữa. Một vùng núi đã vôi trơ trọi, chẳng có nổi một rặng cây lớn hòng chắn gió. Những ngày này, người dân vẫn chưa nghĩ Tết, công việc đồng áng vẫn đang tiếp diễn.

Lần đầu tiên chứng kiến trong giá rét lạnh căm, một người đàn ông dắt bò đi cày trên một sườn núi dốc dễ có hơn 60 độ. Chẳng thể nào hiểu được làm sao người và bò có thể cày được trên một địa hình như thế, chỉ sơ sảy một chút là lăn xuống núi. Người dân miền Trung (như tôi) vẫn hay than thở, rằng quê mình đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt etc…

Nhưng hãy đến Đồng Văn để thấy như thế nào mới thật sự là khắc nghiệt! Người dân gùi đất lên những sườn núi đá cao, đổ vào giữa các hốc đá để trồng đây đó vài khóm rau cải. Rác, bã mía, cây bụi các nơi được tha về, đốt thành than giữa các hốc đá để làm phân bón. Cứ như thế, qua nhiều thế hệ, người ta biến núi đá khô khốc thành nơi có thể trồng trọt được!

Cái câu thơ “thô thiển” của Hoàng Trung Thông mà ai cũng học ở phổ thông: Có sức người sỏi đá cũng thành cơm, cái câu ấy hiểu theo nghĩa đen hoàn toàn đúng ở nơi đây! Nhiều khi phải mở mắt xem người khác sống như thế nào, mới bớt cường điệu hoá hoàn cảnh, cảm xúc của riêng cá nhân mình, mới thôi tự xem mình là trung tâm của vũ trụ! 😀

bắc hành – 2015, phần 15

Về về đây miền Đồng Nai có Cửu Long,
Cuộn chảy dâng trời Nam mạch sống.

Tiếng sông Cửu Long, Trường ca Hội trùng dương - Phạm Đình Chương 

ường đi đã tới… nhưng vẫn còn nhiều điều đọng lại sau chuyến đi muốn nói thêm ở đây, không phải chỉ là về những con đường, những cảnh quan tuyệt đẹp đã qua. Đó là về người Mông ở Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang và các nơi khác, ở họ có nhiều điểm khác biệt với các sắc dân còn lại. Nếu đồng bằng là lãnh địa của người Việt, lưng chừng núi là khu vực sinh sống của những dân tộc: Mường, Tày, Thái, Dao… thì người Mông luôn chọn sống trên đỉnh những ngọn núi cao.

Bản chất du mục, du cư ăn sâu vào trong tâm thức người Mông, suốt nhiều ngàn năm phải trốn chạy sự lấn ép của người Hoa và nền văn minh Hán. Mặc cảm lưu vong trên “đất người”, thái độ kép “bên này bên kia”, khép kín với người ngoài và phát triển tính tự trị cộng đồng. Mặt khác, lại văn minh ở một số khía cạnh: tự do tình yêu và hôn nhân, khai phóng tính dục, tục kéo dâu, chợ tình, mộng mơ, yêu thích tự do, thiện chiến, nhiều bất mãn và nổi loạn hơn thảy những dân tộc khác.

Một số người có thể nhìn người Mông (và những sắc dân khác) như những dân tộc chậm tiến, riêng tôi cảm thấy thích thú và đồng cảm với lối sống tôn trọng giá trị cá nhân của họ. Vẫn biết cuộc sống hiện đại là một quá trình khó có thể đảo ngược, nhưng người Mông vẫn duy trì cá tính dân tộc của mình như cố thủ trên các đỉnh núi cao. Cá tính Mông như thể vùng họ sống: hùng vĩ, hiểm nguy, tự do và thơ mộng, như những đỉnh núi cao bất tận, vô danh, đời đời mù sương phủ!

bắc hành – 2015, phần 9

Này áng mây chiều,
Thuyền mây ơi trôi đi đừng vấn vương,
Về phương xa nhắn ai khuây tơ lòng,
Là nam nhi chí trai tang bồng.

Áng mây chiều - Dương Thiệu Tước - Quỳnh Giao 

ầu hết chúng ta nghĩ về người Mông, Dao, Tày, Thái… như những sắc dân kém phát triển. Trên đường đi tôi thấy nhiều, những người dân tộc vì đói nghèo, vì hôn nhân cận huyết, vì cả những tệ nạn của cuộc sống hiện đại… làm cho suy kiệt. Nhưng vẫn còn nhiều người mà khi tiếp xúc với họ, ta có được cảm giác vững vàng, tự tin, ta vẫn đọc được trong họ nét riêng, chiều sâu trong cách sống. Họ như những cây thông, cây tùng đầu núi, dù thế nào vẫn vững chãi xanh tươi.

Đôi khi tôi nghĩ có lẽ là ngược lại, những “người dân tộc thiểu số” đó văn minh hơn người Kinh chúng ta hiện nay, trên nhiều mặt. Khách sạn tôi ở có một cây đào cổ thụ rất đẹp trước cổng, du khách Việt đa số chẳng thèm bận tâm đến cây đào, cũng chỉ là một trong hàng triệu cây đào khác. Những người Mông, Dao… đi qua, hầu như ai cũng dừng lại ngắm nhìn và trầm trồ khen hoa đẹp. Trong họ có một mối liên hệ gắn bó máu thịt với rừng núi, với cây cỏ, với môi trường sống chung quanh.

Và còn nhiều điều khác không thể nói hết trong những post chơi chơi, ngắn gọn như thế này. Có một điều rõ ràng, những con người ấy cho tôi thấy một chút giá trị tự thân của cá nhân và cộng đồng, chứ không phải những chiêu trò vụn vặt rẻ tiền sẽ chẳng đi đến đâu của cái xã hội người Việt hiện tại. Nói như Tản Đà: Dân hai nhăm triệu ai người lớn? Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con! Rời Đồng Văn về tp. Hà Giang qua đèo Mã Pí Lèng và Mèo Vạc, kết thúc những chặng chính của hành trình.

bắc hành – 2015, phần 8

Hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng,
Một chiếc vòng sáng long lanh, với nụ cười nàng quá xinh.

Nụ cười sơn cước - Tô Hải - Hà Thanh 

ăm nay cao nguyên đá Đồng Văn khác nhiều so với những gì tôi thấy năm ngoái. Ngoại trừ thị trấn Đồng Văn, hồ trữ nước còn đầy, ở các xã khác, những hồ treo chứa nước hầu như cạn trơ đáy, hạn hán đang đến rất gần. Không khó để thấy ở một số xã xa thị trấn một chút, cảnh những người dân địa phương gùi từng can 50 lít nước trên lưng, đi nhiều cây số để chở nước về nhà trên các vách đá cheo leo. Giá trung bình cho một can nước như vậy là 50 ngàn, vị chi cứ 1 ngàn 1 lít.

Sức chịu đựng của con người ở đây thật phi thường, tôi dám cá có mấy người dân thành phố có thể làm được như thế! Nhưng đập vào con mắt của du khách, hoa cải vẫn nở vàng ươm trên nương, hoa tam giác mạch vẫn khoe mầu quyến rũ, mùa màng có vẻ như còn tươi tốt hơn những gì tôi chứng kiến năm ngoái. Người dân cõng từng gùi củ cải trắng tinh vào chợ. Và đặc biệt, hoa đào mận đồng loạt nở những màu hồng, trắng phơn phớt khắp bản làng, như chưa bao giờ nhiều và đều như thế!

Cao nguyên Đồng Văn đang bước vào thời điểm chín muồi của xuân sắc! Những gì khiến Đồng Văn cuốn hút du khách đến vậy!? Một cao nguyên đá vôi với muôn vẻ địa hình, địa mạo, độc đáo và duy nhất. Những nhóm dân tộc ít người đầy mầu sắc, muôn màu muôn vẻ không trùng lặp. Nhưng trên hết vẫn là hơi thở sinh sôi mãnh liệt của cuộc sống, như hoa đào, mận vẫn nở, như mía, ngô, khoai vẫn đâm chồi đây đó trên vùng đất chỉ toàn sỏi đá một màu xám xịt, khô cằn và lạnh buốt.

bắc hành – 2015, phần 7

Mây trôi bơ vơ, mang theo niềm nhớ,
Ánh trăng vàng úa soi bóng hình ai phương trời nào đây.

Nhạc sầu tương tư - Hoàng Trọng - Hà Thanh 

hi đường đi bắt gặp muôn ngàn con sông suối nho nhỏ, nước xanh biêng biếc rì rào chảy, là biết đã đến địa phận tỉnh Hà Giang, vùng đất địa đầu tổ quốc, lần này là lần thứ hai trở lại. Còn rất nhiều điều tôi chưa biết hết ở vùng đất Hà Giang này, đặc biệt là khu cao nguyên đá Đồng Văn. Biết có ở đây bao ngày, bao tuần cũng chỉ như là cưỡi ngựa xem hoa. Phong cảnh, con người, cuộc sống nơi đây có điều gì cuốn hút đến mức kỳ lạ, khó diễn tả thành lời, chỉ biết nói là rất rất đẹp!

Đồng Văn, Mèo Vạc là “quê hương” của người Mông, những nhóm đầu tiên di cư từ TQ đến VN cách đây hơn 300 năm về trước, tập trung chủ yếu ở khu vực này rồi mới phân tán đi các tỉnh khác. Trong lịch sử truyền khẩu, người Mông các miền vẫn xem Mèo Vạc là quê hương, gốc gác của mình. Và có lẽ vì thế, người Mông ở đây có thể được xem là “nguyên bản” nhất, các đặc điểm y phục, tập quán, phong tục cũng rõ nét nhất. Có nhiều điều để tìm hiểu về những cuộc diaspora của họ.

Và không chỉ có người Mông, các sắc dân khác cũng đều như thế. Ví như người Dao ở Việt Nam vốn là di cư từ đảo Hải Nam, TQ sang, trước hết bằng đường biển, qua Quảng Ninh, Bắc Giang, rồi lại ngược lên cư ngụ tại miền núi. Cuộc sống, vốn dĩ từ trong bản chất, dù ít dù nhiều, cũng mang tính chất một công cuộc diaspora, đâu phải chỉ có người Do Thái mới thiên di!? Thế nên phải đi và phải hiểu, phải biết nhìn nhận sự khác biệt, con người và văn hoá thật sự là rất phong phú, đa dạng.

Chặng 7: Hoàng Su Phì ⇒ Tân Quang ⇒ Vị Xuyên ⇒ tp. Hà Giang ⇒ Tam Sơn (Quản Bạ) ⇒ Yên Minh ⇒ Đồng Văn

Sài gòn ⇔ Hà nội – 2015
Sơn Tây – 2015
Yên Bái – 2015
Lào Cai – 2015
Hà Giang – 2015
Đồng Văn – 2015
Mèo Vạc – 2015

bắc hành – 2015, phần 5

Bên cầu biên giới, tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi.
Sông nước xa xôi, mây núi khắp nơi, không tỏ một đôi lời.

Bên cầu biên giới - Phạm Duy - Thái Thanh 

uãng đường này đi sát với biên giới TQ, nhiều đoạn quốc lộ 4D ở lưng chừng núi, ngay dưới chân núi đã là đường biên. Đây là một cung đường khó khăn, đường đi rất xấu, nhiều đoạn đang xây dựng dở dang, taluy cao ngút tầm mắt, nhiều đoạn dốc dể trên 30%. Cứ nhìn mức độ tiêu hao xăng của xe là biết đường xấu hay tốt. Con ngựa sắt đến tận giờ vẫn là người bạn trung thành, hoạt động trơn tru không có vấn đề gì lớn ngoài đôi lần hơi khó khởi động do thời tiết quá lạnh.

Đường biên nhiều nơi rừng núi nương rẫy trơ trụi, xơ xác, nhưng vẫn còn tốt hơn vùng Yên Bái, một số nơi người dân đã biết trồng rừng phòng hộ bảo vệ bản làng, nên nhìn tươi tốt và xanh mướt. Đoạn chạy dọc đầu nguồn sông Hồng, nơi đoàn kinh tế quốc phòng 345 trú chân thì quy cũ hẳn ra, ruộng nương làng bản trông khá bài bản đẹp mắt. Bên kia sông, các công trình do phía TQ xây thì không cần phải nói, trông hoành tráng bề thế hơn hẳn. Trở về lại thành phố biên giới Lào Cai.

Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ, Cầu cao nghiêng dốc trên dòng sông sâu dừng chân bên cầu Cốc Lếu, tp. Lào Cai, bên kia là Hà Khẩu, TQ, thầm hát câu: Bên cầu biên giới, tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi. Sông nước xa xôi, mây núi khắp nơi, không tỏ một đôi lời. Ôi giấc mơ xưa, mộng đời phiêu lãng giang hồ. Sống trong lòng người đẹp Tô Châu, hay là chết bên dòng sông Danube!?Bên cầu biên giới (Phạm Duy), người nghệ sĩ tài hoa đã nói thay hết lời muốn nói!

Chặng 5: Sapa ⇒ Y Tý ⇒ A Mú Sung ⇒ Trịnh Tường ⇒ Bát Xát ⇒ tp. Lào Cai

Sài gòn ⇔ Hà nội – 2015
Sơn Tây – 2015
Yên Bái – 2015
Lào Cai – 2015
Hà Giang – 2015
Đồng Văn – 2015
Mèo Vạc – 2015

bắc hành – 2014

Người về miền xuôi, đem theo tình người miền núi,
Nhà sàn lả lơi, đứng bên đường hoang vắng soi.
Đưa chân anh qua đồi, cơm lam đem theo người,
Lên cao anh ôm trời, để dòng suối lẻ loi…

Người về miền xuôi - Phạm Duy 

hi chép linh tinh trên đường thiên lý ra đất Bắc… Ai về Bắc, ta đi với; Thăm lại non sông giống Lạc Hồng… Đôi khi phải hơi điên điên một chút, phải có cái nhìn bóp méo thực tế (reality distortion field) một chút, cười khinh khỉnh vào cái thực trạng xã hội bullshit bây giờ, để tâm quan sát, tìm kiếm… thì mới nhìn ra những điều tốt đẹp xưa cũ, mới nhận ra đâu là cái chất Việt thuần hậu!

HÀ NỘI

Cái logo di sản văn hoá phi vật thể của Unesco có thể được thấy trang hoàng khắp mọi nơi ở Hà Nội, cái hình tròn có lỗ vuông ở giữa, nhìn giống đồng tiền xu cổ, hình như phản ánh đúng thực tế Hà Nội bây giờ: vật giá ngày càng đắt và con người ngày càng rẻ!

BÁI ĐÍNH

Quy mô rất hoành tráng (dù điều đó chẳng có gì khó với kỹ thuật xây dựng hiện đại), nhưng đường lối kiến trúc đúng chất Việt, từ lầu chuông gác trống cho đến đường nét các mái, kèo, xà, cột… không tạp nham, lai căn, vớ vẩn kiểu Đại Nam, Suối Tiên…

TRÀNG AN

Sơn thuỷ hữu tình, thật là nơi quyến rũ lòng người! Nước suối trong vắt, cá chép vàng choé lượn lờ dưới đáy rêu, các loài thuỷ cầm tự nhiên: cốc, vịt… bơi lội tự do! Sẽ có một ngày ta mang chiếc xuồng ra đây chèo đi chơi bằng hết các ngõ ngách sông ngòi và hang động!

SAPA

Ở Hà Nội, người ta bắt chuyện với mình bằng tiếng Anh, còn ở đây, người ta nhận ra ngay người Việt. Xứ sở của lạnh giá và sương mù, phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp! Con người ta sống giản đơn, và cũng học đòi những thói xấu hiện đại… theo cách đơn giản!

Vốn không sợ độ cao, nhưng thỉnh thoảng vẫn cảm thấy ngợp trước núi đồi trùng điệp nơi đây. Sapa mùa này, phải thật kiên nhẫn mới chụp được một khung hình đẹp, ánh mặt trời rạng rỡ chỉ hiện ra vào một vài thời khắc hiếm hoi trong ngày, khi màn sương mù lạnh giá tạm vơi bớt.

Đa số chúng ta (kể cả tôi) tới đây với mong muốn có được những khung hình đẹp, nhưng phải chăng đó là tất cả mục đích của hành trình? Suy rộng ra, cái câu hỏi: chúng ta tới đây để làm gì? ấy, nếu ai đó còn có trong đầu một câu trả lời, tức là còn… chưa trả lời được vậy! 😀

Những cung đường Tây Bắc không dành cho người yếu tim, chỉ một giây lơ là mãi ngắm nhìn cảnh quang xinh đẹp là đã có thể lạc tay lái xuống vực. Khác với thời tiết 3°C mấy ngày đầu lên đây, những ngày sau ấm hơn và có nắng, hôm nào máy ảnh cũng hết sạch pin rồi mới trở về!

LAI CHÂU

Đèo Ô Quý Hồ, dài và hiểm trở, cắt ngang qua dãy Hoàng Liên Sơn, đổ từ độ cao 2000 m xuống 1000 m, đúng nghĩa là dốc thăm thẳm. Một bên là đỉnh Phan Xi Păng, bên kia là huyện Tam Đường, Lai Châu. Bên này đèo thời tiết ấm và khô, bên kia, phía Sapa, lạnh và ẩm.

Cả một vùng Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ, t.p Lai Châu tương đối ít núi cao, khí hậu ấm hơn, đất đai cũng rộng rãi hơn, con người cũng có phần cởi mở, thân thiện hơn. Hôm nay cũng là ngày Tết của họ. Tiếc là đã đến Sìn Hồ mà không đủ thời gian để đến Pú Đao…

BẮC HÀ

Đi chợ phiên Bắc Hà đầu năm (cách Sapa hơn 100km), tình cờ ghé qua đây, ngồi bên ngã ba sông Hồng và sông Nậm Thi, cầu Cốc Lếu, bên kia sông là Hà Khẩu, Trung Quốc. Và cũng thật tình cờ, mùa này tháng 2, chính xác là ngày 17 tháng 2, đúng 35 năm trước

Phiên chợ đầu năm chưa đông, nhưng đã rực rỡ sắc mầu, riêng người Mông đã có 5 sắc khác nhau (đen, hoa, xanh…), người Dao có đến 23 nhóm nhỏ (đỏ, đen, xanh, trắng…), lại còn Thái, Tày, Nùng, Dự, Giáy… Học cách phân biệt các sắc mầu cơ bản cũng đã hết cả một buổi.

Khá nhiều địa danh vùng Đông Bắc, Tây Bắc Việt Nam có nguồn gốc từ tiếng Hoa, chính xác hơn là phát âm theo tiếng Quan Thoại giọng vùng Vân Nam, Trung Quốc. Ghi lại ở đây một số từ phổ biến:

tả – 大 – đại – lớn: Tả Van
séo – 小 – tiểu – nhỏ: Séo Tung Hồ
lao – 老 – lão – già, cũ: Lao Chải
sìn – 新 – tân – trẻ, mới: Sìn Hồ
phìn – 坪 – bình – bằng: Tả Phìn
thàng – 塘 – đường – ao, đê: Lùng Thàng
chải – 寨 – trại – trang trại: Mù Cang Chải
cai – 街 – nhai – ngã tư: Si Ma Cai
hồ – 河 – hà – sông: Ô Quý Hồ
chéng – 江 – giang – sông: Sín Chéng
cấu – 沟 – câu – suối: Cán Cấu
san – 山 – sơn – núi: Phìn San
sàng – 上 – thượng – bên trên: Sàng Chải
sả – 下 – hạ – bên dưới: Sả Séng
tung – 中 – trung – ở giữa: Tung Chải
tra – 家 – gia – nhà: Má Tra
sa – 沙 – sa – cát: Sa Pa
sử – 石 – thạch – đá: Mù Sử
lủ – 路 – lộ – đường: Ma Lủ
ma – 馬 – mã – ngựa: Ma Sa Phìn
lùng – 龍 – long – rồng: Lùng Phìn
giàng – 羊 – dương – con dê: Giàng Phìn
nàn – 南 – nam – phía nam: Nàn Sán

HÀ GIANG

Đã Hà (河) lại còn Giang (江), nơi đây có rất nhiều suối, sông nhỏ chảy dọc theo thung lũng, bản làng cũng nương theo đó hình thành. Những ngôi nhà sàn của người Tày dài thậm thượt, ruộng nương xanh tốt. Hà Giang là vùng đất mà tôi thích nhất trong số những vùng đã đi qua!

Cao nguyên đá Đồng Văn, như bị lạc vào một ma trận, một sa mạc đá. Đá mọi nơi, nhìn hoa cả mắt, thi thoảng mới thấy chút xíu đất có thể trồng trọt. Gió lạnh căm căm thổi suốt ngày đêm, một cái lạnh khô khốc, các làng xã đều xây hồ treo lớn chứa nước phòng khi hạn hán.

Cuộc sống nơi đây cực kỳ khắc nghiệt, thế nhưng khác hẳn với cái nhếch nhác vùng Sapa, cư dân nơi đây có vẻ chỉnh tề, quy củ, kỷ luật, từ y phục cho đến sinh hoạt, sản xuất, vui chơi. Cảm thấy được nghị lực và sức sống vươn lên từ vùng sa mạc đá này!

Tp. Hà Giang, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, về lại Hà Giang, một vòng 300 km. Làm 2 vòng như thế theo 2 chiều ngược nhau để không bỏ sót điều gì… nhất là Mã Pí Lèng hùng vĩ nhất VN, con đèo mà nhiếp ảnh nghiệp dư như tôi không thể nào lột tả hết được.

Không quên ghé qua Sủng Là, nơi quay phim Chuyện của Pao. Bây giờ đúng vào mùa hoa tam giác mạch tim tím và hoa cải vàng ươm nở rộ trên cao nguyên hun hút gió. Đến để biết rằng một không gian như thế, những con người như thế… là điều hoàn toàn có thật!

Kể chuyện đi ăn cháo ấu tẩu tại Hà Giang. Ấu tàu là loại củ kịch độc, dùng làm thức ăn phải qua chế biến kỹ càng. Bữa đầu tiên, bát cháo có mỗi lát ấu tẩu bằng cái móng tay. Ngồi nói chuyện trên trời dưới đất với vợ chồng chủ quán, phong thái người Bắc xưa, chẳng có gì giống Bắc bây giờ, đã thấy là một chuyện lạ (nghĩ bụng là dạng Kinh già hoá Thổ, người xuôi lên mạn ngược lập nghiệp lâu đời, giữ nguyên giọng nói, phong cách xưa cũ). Đến bữa thứ hai, ngoài vài lát ấu tẩu, còn được thêm cái móng heo, thêm một chút lạ. Đến bữa thứ ba, thấy chuyện lạ nhất: được một tô toàn ấu tẩu, ăn đến phát ngán! 😀