joan baez

How the winds are laughing?
They laugh with all their might!

ột chiều trên đường đi chèo thuyền, đã khá lâu không chèo tuyến đường dài 20 km này, cảm thấy hơi mỏi mệt nên lục tìm trong ký ức một bài ca vui tươi để hát lên… cho đời bớt khổ! 😀 — Il était une fois, un petit garçon, qui vivait dans une grande maison — Ngày xửa ngày xưa, có một cậu bé nhỏ, sống trong căn nhà lớn, bài hát Donna, donna phiên bản tiếng Pháp này, xưa với tôi là cách học ngoại ngữ, không gì tốt hơn những ca khúc đơn giản, dể thuộc, dể hát như thế này!

Nhanh chóng, cái tâm trí “đa ngôn ngữ” của tôi chuyển qua phiên bản tiếng Anh. Ngày đó, khi chúng ta còn đơn giản và ngây thơ, thấy nhạc hay là cứ hát thôi, chẳng suy nghĩ sâu xa gì. Giờ lớn rồi, cái nhìn của chúng ta giống như “kính chiếu yêu”, lập tức nhận ra có gì đó sâu xa hơn bên dưới cái tưởng chừng là một khúc dân ca Do Thái đơn giản này. — On a wagon bound for market, there’s a calf with a mournful eye. High above him there’s a swallow, winging swiftly through the sky.

Trong chuyến xe lăn về hướng chợ, Có chú bò ánh mắt thê lương. Trên đầu soải một cánh chim, Liệng bay thỏa thích khắp miền trời cao.

Trên một toa xe đi ra chợ, có chú bò với ánh mắt đẫm lệ (vì sắp bị bán đi giết thịt), chú nhìn lên trời cao, con chim én nhỏ bay lượn khắp tầng không. Câu chuyện bắt đầu như thế, rồi tiếp diễn: — Đừng than phiền nữa, người nông dân bảo, ai biểu mày sinh ra là con bò làm chi!? Tại sao không làm chim én, tung cánh bay trên trời cao, thật tự hào và tự do!? — Stop complaining, said the farmer, who told you a calf to be? Why don’t you have wings to fly with, Like the swallow so proud and free!?

Đừng than nữa – người nông phu nói, Kiếp con bò mà khóc cái chi? Sao không có cánh bay đi, Như con chim én kiêu kỳ tự do!?

Thật yêu quá cô Joan Baez này, giọng hát đến tuyệt vời, nhất là năm 1972, liên tục 12 ngày đêm Mỹ ném bom miền Bắc, cô đã đến khách sạn Hanoi Hilton (a.k.a: nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội) để hát cho các phi công Mỹ bị giam ở đó nghe: — Bò rất dể bị lùa đi và giết thịt, chẳng cần phải có lý do gì! Và ai đã từng mơ ước theo đuổi tự do, như con chim én tung trời mà bay!? — Calves are easily bound and slaughtered, never knowing the reason why! But who ever treasures freedom, like a swallow has learned to fly!

Kiếp con bò trói gô xả thịt, Có bao giờ hiểu lẽ gì đâu. Muốn tự do phải làm sao, Học con chim én bay cao trên trời.

Đến lúc này, có thể thấy ca khúc không đơn giản như chúng ta thường nghĩ. Bài ca kết thúc với một chút gợi ý về sự tự do của tâm hồn con người, mặc cho hoàn cảnh, mặc cho bao nhiêu nghịch lý, khó khăn, ràng buộc: — Oh, và gió đang thổi, đang thổi thế nào thế!? Gió đang thổi lồng lộng với tất cả sức mạnh của nó, gió thổi suốt cả ngày và đêm mùa hạ — How the winds are laughing, they laugh with all their might. Laugh and laugh the whole day through, and half the summer’s night.

Gió lồng lộng gió cười khúc khích, Tiếng gió cười thỏa thích tâm can. Cười hoài tiếng gió vọng vang, Vi vu lũ gió cười khan đêm ngày.

Liberté, Égalité, Fraternité

hông mấy khi thích nói về các chủ đề chính trị, xã hội, nhưng hôm nay cũng có hứng cóp nhặt một vài suy nghĩ vụn vặt. Cái câu châm ngôn của Cộng hoà Pháp trên tựa đề bài viết ấy thường được dịch ra tiếng Việt là: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Trong cách dịch ấy, hai chữ đầu đã ổn, nhưng Fraternité mà dịch là Bác ái thì… hoàn toàn chưa ổn!

Có lẽ, tại thời điểm du nhập những chữ ấy vào Việt Nam, người dịch chưa có một hiểu biết, một khái niệm như thế nào là Fraternité trong xã hội phương Tây, nên dịch Bác ái là… quá rộng, quá mơ hồ, nếu không muốn nói là hoàn toàn sai so với bối cảnh văn hoá, tổ chức xã hội phương Tây đương thời. Dưới đây sẽ nói rõ hơn về điều đó.

Fraternité hiểu theo nghĩa đen, cơ bản nhất là tình huynh đệ, tình anh em trong một nhà, trong một hội đoàn cụ thể. Đơn giản nhất, những tổ chức đơn thuần mang tính thể thao như CLB Thuyền buồm, CLB Golf… có thể gọi là mang tính Fraternité. Từ góc độ nghề nghiệp: nông hội, công hội, thương hội… là những tổ chức mang tính Fraternité.

Trong xã hội phương Tây cách đây vài thế kỷ, khi mà mọi công việc được chuyên môn hoá cao độ, bất kỳ nghề nghiệp gì dù là nhỏ nhất cũng mang tính hội đoàn. Tiến lên một bước nữa, những tổ chức từ thiện, các hội tương tế, ái hữu, tập hợp những con người chia xẻ chung một quan điểm, một phương châm sống là những tổ chức mang tính Fraternité.

Ở một cấp độ cao hơn, các tổ chức lớn như hội Tam Điểm (Freemasonry), các Hiệp sĩ thánh chiến (Crusades), các đảng phái chính trị, etc… là những tổ chức mang tính Fraternité. Nói như thế để hiểu rằng, còn người ta hành động trước tiên là vì quyền lợi của mình, của anh em mình, rồi vì quyền lợi của đoàn thể, từ băng nhóm nhỏ cho đến tổ chức lớn.

Thậm chí, những tôn giáo lâu đời cũng phát triển, phân nhánh thành những tổ chức nhỏ hơn mang tính Fraternité: Thanh giáo (Purtians), Tin Lành (Protestant)… Xã hội được cấu thành từ rất nhiều những hội đoàn khác nhau về nghề nghiệp, về tôn chỉ giáo dục, đạo đức, về đức tin tôn giáo… tất cả đan xen vào nhau một cách rất phức tạp.

Và như thế, Fraternité từ một nghĩa hẹp, xưa cũ (là tình anh em, nghĩa huynh đệ trong một nhà), đã được mở rộng để ám chỉ về các phẩm chất (virtues), các nguyên tắc đạo đức (code of ethics), các luật lệ hành xử (code of conduct) cần thiết và áp đặt đối với các thành viên của một hội đoàn, một tổ chức, cho dù là lớn hay nhỏ.

Fraternité cũng không phải là Bác ái, một loại tình yêu chung chung hướng tới muôn người, muôn loài như kiểu nhà Phật. Mà là tình cảm và thái độ hướng tới những con người đồng hội đồng thuyền trong một cộng đồng, một tổ chức, có phương châm sống, có mục tiêu, có phương pháp hành động, có cương lĩnh, lý tưởng rõ ràng.

Khi châu Âu chuyển mình từ thời Trung Cổ, từ chế độ quân chủ, những “privilege system” – các hệ thống đặc quyền, sang những cơ cấu mới, những “by – virtue system”, những hệ thống XH dựa trên các thang giá trị, vậy thì những “virtue” ấy là gì? Nó gồm rất nhiều điều, nhưng được đại diện bằng 3 chữ: Liberté, Égalité, Fraternité nêu ra trên đây.

Hàng trăm năm trước khi thực sự có Liberté & Égalité, châu Âu đã miệt mài xây dựng Fraternité: những tổ chức bảo hiểm hằng hải (Lloyd, Veritas…), các hội Khoa học và Địa lý, những Y sỹ đoàn, Luật sư đoàn, các hiệp hội, nghiệp đoàn khác… Nếu Liberté & Égalité là chung chung trừu tượng thì Fraternité lại gần gũi, trực tiếp với những sinh hoạt kinh tế hàng ngày.

Hiển nhiên, XH VN đang là một “privilege system”. Nhưng đừng vội liên hệ “privilege system” với “nhóm lợi ích” và đổ toàn bộ lỗi cho chính quyền, chế độ. Chúng ta đã có một nông hội hiệu quả để chống lại thương lái Trung Quốc lũng đoạn chưa!? Chúng ta đã có những thương hội mạnh để cạnh tranh với khu vực hay chưa, hay là vẫn đang thua trên sân nhà!?

Chúng ta có thực sự có Fraternité trong các tổ chức, dù là tư nhân hay nhà nước hay chưa!? Hay vẫn tiểu xảo lừa gạt người khác để vụ lợi nhỏ trong mọi cơ hội có thể!? Ở cấp độ cá nhân, hay là mỗi người VN vẫn mang cái não trạng AQ: chúng ta sinh ra đã là đặc biệt, đã là hơn người, tự cho mình suy nghĩ và hành động xâm phạm đến Liberté & Égalité của người khác!?

Nên thực sự tôi cảm thấy khôi hài với một số người, ban ngày thì lên mạng hô hào tự do dân chủ, rồi tối về không làm gì khác ngoài việc lướt web xem hotgirl vú vếu, cạnh khoé người này người kia, nhảy vào những trang lá cải đọc các tin cướp, hiếp, giết, xem những truyện giật gân do một đám nhà báo bất lương bịa đặt và dẫn dắt. Thế là thế quái nào vậy!?

Chừng nào các bạn kiến tạo được Fraternité, rồi tiếp đó xây dựng nên Égalité, rồi sau đó mới có Liberté được! Đòi hỏi có được mọi thứ theo thứ tự ngược lại cũng giống như con nít đòi mặt trăng (mẹ ơi lấy nó xuống cho con) mà thôi! Chỉ riêng mỗi một chữ Fraternité vẫn còn xa, xa lắm, đi hàng trăm năm chưa biết có tới được hay không!?

seafarers – 20, Alain Gerbault

lain Gerbault served in the France’s Air Force during the WWI, become the French tennis champion later, before going to sea. In 1921, he purchased the Firecrest, an 39 – foot racing gaff sloop, learn sailing for a while, then 2 year later, single – handedly crossed the Atlantic. For this feat, he was awarded the Légion d’honneur. Continue onward, he finally made his way home, 1929, completed a circumnavigation, became the first French to do so! He then built a new boat, a 34 feet named Alain Gerbault with which he wandered the South Pacific, hopping from island to island for the rest of his life. He wrote several books about life on the islands, and criticising the modern western way of life.

lain Gerbault là phi công không quân Pháp trong thế chiến thứ nhất, sau đó là nhà vô địch quần vợt Pháp, trước khi hướng ra biển. Năm 1921, Gerbault mua chiếc thuyền đua 39′ Firecrest để học cách vận hành, rồi 2 năm sau một mình vượt Đại Tây Dương với nó. Với thành tích này, ông được thưởng Bắc đẩu bội tinh. Tiếp tục cuộc hành trình, ông cuối cùng cũng quay về nhà năm 1929, hoàn tất 1 vòng quanh quả đất, và là người Pháp đầu tiên thực hiện được điều đó! Ông đóng một chiếc thuyền mới, dài 34 feet, đặt tên là Alain Gerbault, rồi với nó, ông lang thang khắp các đảo Nam Thái Bình Dương trong suốt phần đời còn lại! Ông viết một số tựa sách về cuộc sống trên các đảo, và chỉ trích lối sống của xã hội phương Tây hiện đại!

seafarers – 7, Bernard Moitessier

e suis citoyen du plus beau pays du monde. Un pays aux lois dures mais simples cependant, qui ne triche jamais, immense et sans frontières, où la vie s’écoule au présent. Dans ce pays sans limite, dans ce pays de vent, de lumière et de paix il n’y a de grand chef que la mer.

ôi là công dân của một quốc gia đẹp nhất trên trái đất này. Xứ sở của những luật lệ cực kỳ khắc nghiệt nhưng giản đơn, không lừa dối bao giờ. Xứ sở mênh mông không có biên giới, nơi mọi điều sống trong chính hiện tại này! Đó là đất nước vô biên của gió, của ánh sáng, của bình yên nơi biển cả!

Phạm Hồng Thái

Sống chết được như anh,
Thù giặc thương nước mình.
Sống làm quả bom nổ,
Chết như dòng nước xanh!

hân sự kiện chấn động xảy ra gần đây, thứ 6 ngày 13 vừa qua, tuy hoàn toàn chẳng có liên quan gì, và thực sự xem xét về bối cảnh lịch sử, về bản chất của hành động thì cũng không có gì là giống nhau. Cũng không có dụng ý sâu xa gì khác, chỉ là ghi lại ở đây một chút lịch sử bi tráng xa xưa chừng đã bị lãng quên, tưởng không mấy người còn biết đến!

semper idem

Nằm đây, tưởng chuyện ngàn sau,
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan…

ột tựa đề quen quen thoáng hiện trên mặt báo, nghĩ mãi mà không nhớ ra, đành phải nhờ đến Mr. Google… Chỉ một phút, cả một trời ký ức hiện về, một tựa sách phiêu lưu viễn tưởng của Jules Verne từng thích thú thời còn bé tí: L’épave du Cynthia, tựa tiếng Anh: The waif of the Cynthia, tựa tiếng Việt: Chú bé thoát nạn đắm tàu. Thế là bỏ ra một nửa buổi tối ngồi đọc lại, từng câu chữ, từng đoạn văn lũ lượt kéo về trong trí nhớ, gần 30 năm mà tưởng đâu như mới ngày hôm qua.

Không khó cho một trí óc trưởng thành để phát hiện ra những chi tiết không logic, thiếu hợp lý và mạch lạc trong bố cục toàn bộ câu chuyện, và sau một hồi đọc lại, nhận ra truyện không hấp dẫn như những tác phẩm khác như: Đi tìm thuyền trưởng Grant, Bí mật đảo Lincoln, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Từ trái đất đến mặt trăng, Cuộc du hành vào lòng đất etc… của cùng một tác giả. Và từ lúc nhỏ, dù rất thích các tác phẩm của Jules Verne nhưng không thực sự là đến độ mê mệt.

Truyện tôi thích nhất của Jules Vernes có lẽ là Bí mật đảo Lincoln. Từ góc độ khoa học, truyện rất hay vì nó dạy cho học sinh cấp 2, 3 những vấn đề thực tế: làm sao để chế tạo xà phòng từ chất béo (như dầu dừa), làm sao kiểm soát hàm lượng carbon khi luyện quặng sắt thành thép, những bài toán lượng giác dùng trong đo đạc, định vị, etc… (tất cả những điều nêu trên đều có trong chương trình PTTH VN), nhưng dưới các hình thức sống động thay vì chỉ lảm nhảm những kiến thức chết như trong SGK.

Những câu chuyện của ông là sự xen lẫn của hai yếu tố: phiêu lưu và viễn tưởng. Nhưng thực sự tôi không thích viễn tưởng cho lắm, một con tàu phải có những cột buồm có thể trèo lên được, biển và mồ hôi phải có vị mặn, chèo thuyền trên những quãng đường dài thực sự là rất vất vả, gian nan… Chỉ thích những phiêu lưu có thật, cảm nhận hơi thở chân thật của cuộc sống, của sóng gió tự nhiên… Nó phải có gì giống như Moby Dick, một sự lãng mạn khắc kỷ mang màu sắc Puritan – Thanh giáo.

Semper Idem: câu châm ngôn (motto) tiếng Latin của nhân vật chính Erik, của gia đình Durrieu trong truyện, với nghĩa: trước sau như một.

Vẫn là một sự đáng tiếc thường thấy khi các thuật ngữ hằng hải, địa lý trong nguyên bản được dịch không chính xác hay không đầy đủ. Hơn nữa, bản dịch tiếng Việt (hầu như chắc chắn là được dịch lần 2 qua một bản tiếng Nga) đã lược bỏ nhiều tình tiết, làm giảm tính hấp dẫn của nguyên tác.

Lẽ dễ hiểu vì lối hành văn với rất nhiều chi tiết, nhiều cách diễn đạt tinh tế, nhiều logic phức tạp đan xen vào nhau thường nằm ngoài khả năng tiêu hoá cũng như khẩu vị của đa số độc giả Việt, những người thường chỉ muốn một cốt truyện ngắn gọn đơn giản có thể lĩnh hội chóng vánh!

holidays

ne autre vieille chanson Française de temps en temps, j’aime particulièrement des percusions, et aussi de guitar, dans un tempo très modéré… La mer comme une preface, avant le desert, que la mer est basse, holidays! Tant de ciel et tant de nuages, tu ne sais pas a ton age, toi que la vie lasse, que la mort est basse, holidays!

bambino

l ya toujours un sourire de plaisance sur mon visage en écoutant cette vieille (1956) chanson de Dalida. Et c’est deja très longtemps que nous étions comme ça, un(e) petit(e) Bambino / Bambina, naïvement (et profondément) tombé amoureuse… Regardez la vidéo pour voir la vraiment vivante, aimable Dalida… Je peux seulement dire: Ta musique est plus jolie que tout le ciel de l’Italie…

il pleut sur… sài gòn

Mais lui il s’en fout bien, mais lui il dort tranquille
Il n’a besoin de rien, il a trouvé son île
Une île de soleil et de vagues et de ciel…

ne vieille mais très très belle chanson sur les marins qui ne reviendras plus jamais, et sur les filles, les femmes, qui seraient toujours l’attendre: Les marins d’Amsterdam, s’mouchent plus dans les étoiles. La Marie qu’a des larmes a noyé un canal… Seules Titine et Madeleine croient qu’il est encore là, elles vont souvent l’attendre au tram 33… Peut-être un peu trop tôt, mais lui il est content, il n’a pas entendu que des milliers de voix, lui chantait “Jacky ne nous quitte pas!”…

Chez ces gens-là (Dalida, Jacques Brel etc…), on n’est jamais parti!

prepositive vs. postpositive

Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời
Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi…

ne miscellaneous linguistic notice, except for things borrowed from Chinese, which is largely unpopular to most people in daily, pragmatic uses, the Vietnamese language, in essence, is strictly postpositive, that is an adjective must be placed after a noun / pronoun that it modifies. So the following examples which are prepositive, are extremely rare, to the point of… bizzare, but they’re also very interesting, note the underlined, bold phrases. Add more examples to the list if you would find one! 😀

Chuyện tình yêu - Ngọc Lan (nguyên tác: Histoire d'un amour) 

Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời. Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi

Khúc ca muôn thủa - Thái Thanh (nguyên tác: Granada) 

Rằng từ sau khóe mắt xanh bồ câu xâm chiếm tim anh, quên lãng sao đành

Rừng xưa đã khép - Khánh Ly 

Ta thấy em trong tiền kiếp, với cọng buồn cỏ khô.

lés travailleurs de la mer

Nơi nghĩa trang chật hẹp, tiếng vọng âm vang,
Chẳng một nhánh liễu xanh mùa thu trút lá,
Không một khúc hát ngây thơ buồn bã,
Góc cầu xưa người hành khất thường ca.

ritten with a Pencil stylus on an iPad using our own home – brew inking technology. Excerpt from the famous novel Lés travailleurs de la mer (Toilers of the Sea), Victor Hugo, and my literal, clumsy English translation: Navigation, it is education, sea is the brave school… The voyageur Ulysse had done lots more deeds then the Achille combatant. The sea quenches man, if soldiers are made of iron, then the mariners must have been made of steel. Look at them, in the ports, those tranquil martyrs, the silent winners, man figures with a religious look in their eyes as they’ve come out of the abyss…

voiliers d’indochine – 3

ome texts quoted from the book, the English translation can only partially convey this old, romantic French writing style: if there is one region in the world where the picturesque ancient sailboat has sheltered and prevailed in its multiple facets, it is on the coasts of Indochina. A vast array of colours, the old scent of wood from the past… Nautical Indochina shows contrast especially in its fishing boats: each province has its own type of boat, all shapes of hulls, all the varieties of sails do their utmost to give us an image constantly renewed of maritime culture too regrettably ignored by the French and the Indochinese themselves. Very few are those who attempted to preserve their images, to describe their shapes, to speak of their poetry!

voiliers d’indochine – 2

r. Piétri was a biologist, and a biologist in the old days was trained in pen, ink anatomical drawing. His skill came into great uses for boats illustration. His writing style is that of a romantic, nostalgic, old – school sailor, he was describing something that would soon pass away in Indochina, as it already had in the Western world: large fleet of sailboats in their daily activities: fishing, cargo transporting… He provided various information into a beautiful world that has now gone, even today we still can find wood – workers who possess the knowledge of building traditional hulls in VN (the number of them can be counted with fingers on your hands), some in – depth details like blocks, tackles, shackles, lines, sails, rigging… can only be found in his book.

voiliers d’indochine – 1

onsieur Piétri was Director of Fisheries of Colonial French Indochina (Vietnamese: Giám đốc nha ngư nghiệp Đông Dương), his career may had taken him to many watery parts of Vietnam, but only his passion for boat and sailing that resulted in Voiliers d’Indochine (Sailboats of Indochina), a book he’d spent many years working on, in the 30s the previous century, first published in Saigon, 1943, two decades ahead of The Junk Blue Book. I was reading it through an English translation of The Vietnam wooden boat Foundation, and its foreword: dedicate to Mr. J B Pietri in recognition of his passion to accurately record the creativity and ingenuity of the Vietnamese people in the building of unique wooden boats…

garmin

Beau le bateau, dansant sur les vagues,
Ivre de vie, d’amour et de vent.
Belle la chanson naissante des vagues,
Abandonnée au sable blanc!

ros: ruggedised, water – proof (to IPX – 7 standard only), good battery life (uses 2 AA batteries, I can usually make 4, 5 paddling “sorties” before having to recharge), good display (clearly visible under sunlight with low – LCD – backlight setting), doesn’t depend on cellular network to function like a cellphone, could use both GPS (US) and GLONASS (Russia) satellites’ signal, good 3D – stabilized digital compass to show directions (very useful for navigating even on rivers.

Sometimes, the river is so wide that I can hardly find correct heading based solely on its 2 banks’ landmarks), large internal storage space plus the ability to add an external memory card to store more maps. Cons: the Garmin’s default map is very vague on Vietnam’s territories, next to unusable, GUI responsiveness is slow compared to a smartphone’s standard. Most importantly, correct and content – rich maps are very much demanded:

General map

I’ve replaced my Garmin’s default map by Open Street Map, which is much better. However, Open Street Map, and even Google Map, are somewhat outdated for many parts of Vietnam. I’ve found out some places which are not right, even in the very vicinity of Saigon.

Topographic map

Thanks to NASA’s satellite image projects, the topographical information is now available publicly for most part of the globe, in high resolution. I’ve found these data built – in into Open Street Map already, so “the contours” are available on my Garmin.

Hydrographic map

I’ve long been collecting hydrography data, but there’s very few of them for Vietnamese water, and most are for blue – water regions, not the brown – water. Also, I’m still seeking a way to convert those data into Garmin map format to make them usable.

Tidal charts

Garmin supports displaying tidal information (given it is in the map), but unfortunately, those information for Vietnamese water is virtually zero. For me, this is currently the most important issue. Southern VN belongs to an area with complex mix of diurnal and semi – diurnal tides (Vietnamese: nhật triều & bán nhật triều). The highs and lows of tide within a single day can differ by 2 ~ 4 meters or more, which could make paddling very difficult, or even impractical at times (e.g: spring tide at new moon phase). For now, I consult this tides4fishing.com website to do the planning prior to going to the fields.

⓵⏎ From iPhone – 4S onward, Apple includes a GLONASS receiver into its hardwares, this explains the exceptional positioning performance of the devices. In term of precision, GLONASS is better than GPS at higher latitudes, but slightly behind GPS elsewhere. The use of both systems greatly extend signal coverage: GPS alone has 31 satellites, a receiver working with both GPS and GLONASS will have support from a total number of 55 (31 + 24) satellites, which improves signal fixing time, improves tracking performance and even precision would also receive a boost.




non, chéri

on chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Non chéri, tu rêves de folies, tu as brisé tout ce que nous avions bâti. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans joie, sans toi, mon amour. J’entends les pas dans l’escalier, mais ils ne s’arrêtent pas ici. Et quand le silence soudain revient, j’ai si peur qu’entre nous, ce soit la fin de tout. J’ai même perdu confiance en moi, oui, je t’imagine dans d’autres bras qui, t’emporteront loin de moi, et de notre idylle.

Non chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Non chéri, dans l’espace d’une nuit, tu as détruit tout ce qui nous avait uni. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans joie, sans toi, mon amour. Je vais je viens seule dans la maison, où chaque objet me parle de toi. Hier on était là tous les deux, et en quelques heures l’avenir me fait peur. Pourtant j’espère que tu reviendras qu’avant le matin tu rentreras, j’essaierai de ne pas te montrer toute ma peine.

Non chéri, non chéri, tu n’aurais pas dû partir ce soir. Ma première nuit sans toi, ma première nuit sans toi, sans toi mon amour!

femme d’aujourd’hui

Toi le symbole de toutes nos libertés,
Tu es la terre qui cherche sa vérité,
Détruisant des montagnes de tradition,
Tu reproposes une nouvelle version.

emme sous le drapeau de ses rêves, crie son nom, retire ses chaînes. Femme qui se soutient différente, que d’espoir sur la balance. Tu étouffes dans l’île de tes faiblesses, peur de ces blessures qui restent. Toi le symbole de toutes nos libertés, tu es la terre qui cherche sa vérité. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui. Détruisant des montagnes de tradition, tu reproposes une nouvelle version. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui.

Nuối tiếc — Ý Lan 

Femme, une force qui vibre dans l’espace, tu es la passion sans arme. Femme, complice intime ou guerrière, un voile tâché de mystère. Toi le symbole de toutes nos libertés, tu es la terre qui cherche sa vérité. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui. Détruisant des montagnes de tradition, tu reproposes une nouvelle version. Une femme d’aujourd’hui, une femme d’aujourd’hui.

je ne pourrais jamais t’oublier

Bên thành rượu tiễn;
Buổi chia bào bịn rịn những ai ai.
Khách ra đi nao nức bốn phương trời,
Người ở lại luống ngậm ngùi năm tháng cũ.

iens, bonjour, comment vas — tu, dis — moi? Dis, te souviens — tu encore de moi? Moi, il m’arrive souvent de penser à toi. Mais à part ça, comment ça va? Toi, vraiment tu n’as pas trop changé. Moi, tu sais, j’ai beaucoup voyagé. Oui en effet, j’ai découvert d’autres pays. Et toi, qu’as — tu fait de ta vie?

Je parle trop, tu es pressé, je ne voudrais pas te déranger. Si j’en dis trop, c’est pour t’aider, à retrouver le temps passé.

Je ne pourrais jamais t'oublier - Nicoletta 
Mưa trên biển vắng - Ngọc Lan 

Est — il vrai qu’elle me ressemble un peu? On dit qu’elle a aussi les yeux bleus. Es — tu certain d’être plus heureux maintenant? Moi, je t’aime, je t’aime toujours autant. C’est la vie, on n’y peut rien changer. Nous sommes aujourd’hui des étrangers. Je vois très bien, dans tes yeux, qu’il n’en reste rien. Notre amour que tu es loin!

Je parle trop, tu es pressé, je sais, je ne veux plus te retarder. Encore un mot, et je m’en vais, tu sais, je ne pourrai jamais t’oublier!