hiểu quá hương giang

text=十载抡交求古剑&font=1&size=18&color=FF0000
text=一生低首拜梅花&font=1&size=18&color=FF0000

 

text=晓过香江-高伯适&font=1&size=18&color=0000FF

text=万嶂如奔绕绿田&font=2&size=18&color=111111
text=长江如剑立青天&font=2&size=18&color=111111
text=数行渔艇连声棹&font=2&size=18&color=111111
text=两个沙禽屈足眠&font=2&size=18&color=111111
text=尘路悠悠双倦眼&font=2&size=18&color=111111
text=远情浩浩一归鞭&font=2&size=18&color=111111
text=桥头车马非吾事&font=2&size=18&color=111111
text=颇爱南风角枕便&font=2&size=18&color=111111

âu không trở lại chủ đề thơ chữ Hán của Cao Chu Thần. Con người ông tính khí ngang tàng, tư tưởng xã hội chính trị không có gì mới lạ, nhưng văn tài thì đúng là lạ lùng. Một trường hợp nổi bật hiếm hoi trong cổ văn Việt Nam. Đôi câu thơ giáo đầu ở trên: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Mười năm giao du tìm bạn tri âm, khó như tìm cổ kiếm, Cả một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai) vẫn thường được truyền tụng như chính cốt cách con người Mẫn Hiên – Cúc Đường vậy!

Hiểu quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên.
Kiều đầu xa mã phi ngô sự,
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Buổi sáng qua sông Hương

Muôn núi quanh co diễu cánh đồng,
Trời xanh gươm dựng một dòng sông.
Giặm đò văng vẳng vài chài cá,
Co cẳng lim dim mấy chú mòng.
Dặm khánh mịt mờ đôi mắt mỏi,
Tình quê man mác chiếc roi vung.
Đầu cầu xe ngựa ta nào tưởng!
Tưởng trận nam phong quạt giấc nồng.

Xin đọc thêm về thơ Cao Bá Quát trong những post trước của tôi: Trà giang thu nguyệt ca, Sa hành đoản ca, Trệ vũ chung dạ cảm tác.

thị xã trong tầm tay

To remember soldiers of the 3rd division,
who heroically defended the town, Feb ~ Mar, 1979.

xactly 30 years ago… things as seen aftermath, when the bloodshed battles have just been over… Film name: Thị xã trong tầm tay, screenplayer & director: Đặng Nhật Minh, type: 35mm black and white film, year of production: 1982, music, lyric & dialogue: Trịnh Công Sơn & Hoàng Phủ Ngọc Tường.

3rd division (nickname: Yellow Star, official number: 359th) is an elite (but not regular!) formation of the VPA (Vietnam People Army), originally formed and served in the 5th military region (central of Vietnam). For its exceptional performance in the Vietnam war, in 1976, the unit was deployed to the 1st military region in preparation for any threats from the north. The responsibility was to defend Lạng Sơn province, with the historical positions: Đồng Đăng, Kỳ Lừa, Chi Lăng…

When it happened 3 years later, nominally, no regular formation had been committed to battle, the Strategic Army’s 1st and 2nd Corps still stationed around Hà Nội, behind the Như Nguyệt river (aka Cầu river) defence perimeter, in case of any deeper penetrations. Only local militia units took charges of absorbing the offensive forces. In reality, some of the most combat – hardened units, such as the 3rd (359th), the 346th divisions, had already engaged in.

At the outbreak of the Sino – Vietnam war, Feb, Mar, 1979, facing an enemy roughly 9 times outnumbered (against the Chinese 127th, 128th, 148th, 161th, 163th, 164th, 165th infantry divisions with their supporting artillery and tank units), Yellow Star fiercely defended a line of 60 km in width, only permitted the enemy to advance less than 30 km in depth, at an average rate of 0.8 km per day, and at an huge price of loss (about 11.000 Chinese casualties on only this front, to the overall number of 60.000)!

The division’s personnel also helped in training other defending units the following years. The final offensive had been carefully planned and prepared, but canceled due to the opponent’s unilateral withdrawal and other political reasons, thus denying the unit an evident victory. However, that’s enough for the division to receive great fear and respect from the adversary side! What was left is the completely destroyed provincial capital town of Lạng Sơn, no house is known to stand inside the town, the spaces recalled by the film!

old house

text=自叹年来刺骨贫&font=2&size=18&color=111111
text=吾庐今已属西邻&font=2&size=18&color=111111
text=殷勤说向园中柳&font=2&size=18&color=111111
text=他日相逢是路人&font=2&size=18&color=111111

gôi nhà này, tôi chỉ ở thường trực trong thời gian khoảng 3, 4 năm, nhưng trở lại thường xuyên mười mấy năm sau đó. Sơn trắng, ốp gạch đỏ, nền xanh, ngôi nhà thân thương này nay đã thuộc về người khác, giờ thì: tha nhật tương phùng thị lộ nhân – ngày sau gặp lại xem như người qua đường rồi 😢! Những bức hình này (hơi mờ do scan từ ảnh giấy) đều được thực hiện bởi “phó nháy” danh tiếng Hồ Xuân Bổn (chủ tịch hội nhiếp ảnh tp. Đà Nẵng).

xuân và tuổi trẻ

Xuân và tuổi trẻ - Thái Thanh 
Xuân và tuổi trẻ - Ánh Tuyết 
Xuân và tuổi trẻ - Quỳnh Giao 


Thanh niên dữ thanh xuân 
text=青年与春天&font=1&size=18&color=0000FF
text=作曲:罗允正&font=2&size=18&color=111111
text=作词:叶传华&font=2&size=18&color=111111
text=歌手:张贴由&font=2&size=18&color=111111

hế là đã qua một năm mới, đã bước qua cái tuổi mà Khổng Tử gọi là “tam thập nhi lập”. 30 ta đã gọi là già chưa nhỉ? Chưa đâu, mình còn trẻ lắm. Vẫn còn nhiều cảm hứng khi nghe được một khúc ca hay, vẫn xao xuyến ngây ngô trước các cô gái đẹp! Chừng nào vẫn còn thấy Ánh Tuyết hát dở tức là mình chưa già! 😀 NS Văn Cao từng khóc khi nghe Ánh Tuyết hát, nhưng đấy là vì suốt mấy chục năm XHCN ở miền Bắc, người ta chỉ toàn hát “nhạc đỏ” mà quên đi, không biết cách hát một bản nhạc ngũ cung Việt Nam cho ra hồn. Ánh Tuyết theo tôi có chất giọng rất tốt, cảm được cái hồn của nhạc ngũ cung nhưng đôi chỗ vẫn còn xử lý vụng về chưa đạt. Nói thì nói vậy, bài Xuân và tuổi trẻ này Ánh Tuyết trình bày thật tuyệt, với bài này ca sĩ mới thể hiện được hết chất giọng soprano của mình.

Trong một post trước của mình, tôi đã có đề cập đến tác giả La Hối của ca khúc Printemps et Jeunesse này. Trong post đó, tôi có ý muốn tìm bản lời tiếng Hoa của ca khúc, mặc dù đã được nghe trên TV, đến nay vẫn chưa thể tìm ra (xin xem phần update dưới đây). Về phần lời tiếng Việt mà chúng ta hiện đang hát: năm 1946, nhà thơ – đạo diễn Thế Lữ cùng đoàn ca múa nhạc Anh Vũ đến biểu diễn nghệ thuật tại Hội An đã hết sức yêu mến giai điệu Xuân và tuổi trẻ… Thế Lữ đã xin phép gia đình người cố nhạc sĩ viết lời cho nhạc phẩm nói trên. Sau đó, Nguyễn Xuân Khoát phối nhạc, Văn Chung soạn múa… nhóm hát Nguyễn Hữu Thiết, Tố Nga, Duy Liễu…

Update (Jan 4th, 2009)

Sau một thời gian “miệt mài” tìm kiếm, tôi đã có được kết quả như mong muốn. Đầu tiên là qua blog Nguyễn Nga mà tôi biết được tên bài hát trong tiếng Hoa là 春年与春天 (Thanh niên dữ xuân thiên). Tìm kiếm tựa đề tiếng Hoa này, tôi tìm được đến blog TyHongAu. Đây hầu như là địa chỉ duy nhất trên web có đề cập đến phần lời Hoa bài hát (ngay cả baidu.com cũng không tìm thấy trang này). Điều rất thú vị là chủ nhân blog là một ông già 99 tuổi, tên là 张贴由 (Trương Thiếp Do), người Việt gốc Hoa, định cư tại Canada. Cũng tại blog này, tôi tìm được 2 tư liệu quý giá: một là file mp3 chủ nhân blog (xin các bạn nhớ cho là đã 99 tuổi!) tự đàn guitar và hát bài này, hai là bản scan tờ nhạc với phần lời tiếng Hoa (nhấn vào ảnh bên để xem phiên bản phóng to). Mời các bạn nghe Xuân và tuổi trẻ của tác giả La Hối – La Doãn Chánh tiên sanh qua phần trình bày của “lão sư phụ” Trương Thiếp Do!

khát vọng

text=渴望&font=1&size=18&color=0000FF
text=悠悠岁月欲说当年好&font=2&size=18&color=111111
text=困惑亦真亦幻难取舍&font=2&size=18&color=111111
text=悲欢离合都曾经有过&font=2&size=18&color=111111
text=这样执着究竟为什么&font=2&size=18&color=111111
text=漫漫人生路上下求索&font=2&size=18&color=111111
text=心中渴望真诚的生活&font=2&size=18&color=111111
text=谁能告诉我是对还是&font=2&size=18&color=111111
text=错问询南来北往的客&font=2&size=18&color=111111
text=恩怨忘却留下真情从&font=2&size=18&color=111111
text=头说相伴人间万家灯&font=2&size=18&color=111111
text=火故事未来共斟酌&font=2&size=18&color=111111

hát vọng: những ai thuộc thế hệ 7x có thể sẽ nhớ phim này, chiếu trên truyền hình VN đầu những năm 90. Không nằm trong số những phim TQ thành công nhất, nhưng 50 tập phim mang lại những tình tiết cảm động của những cảnh đời thời cách mạng văn hoá. Dù ở TQ hay VN, dù ít hay nhiều, chúng ta đã sống qua những tháng ngày như thế, những đày đoạ và thăng trầm, những điên rồ của lịch sử, và những hậu quả dai dẳng của nó… hãy nhớ để đừng bao giờ quên chúng! Cố sự bất đa, uyển như bình thường nhất đoạn ca: chuyện cũ chẳng nhiều, cũng bình thường như một khúc ca… Đã trải qua rồi, phải như thế nào đó mới nói được một lời như thế! Truyền hình VN thực hiện việc thuyết minh đã chuyển ngữ lời nhạc thành một đoản khúc thơ lục bát thật khó quên:

cantopop

húa Nhật tuần trước, đi chơi một ván cờ vây giải sầu với bạn Minh tại café Tuấn Ngọc, tình cờ nghe được bài này. Xen giữa những phút suy nghĩ về thế cờ, thoang thoáng nghe ra cũng là một dáng nhạc hay. Mới nghe biết không phải là nhạc Việt, thoáng nghĩ là nhạc Latino, nghe kỹ một chút thì đoán là nhạc Hoa. Nhớ lại lúc trước, khi những đứa bạn cấp 3 của tôi rầm rập nghe Tứ Đại Thiên Vương, thì tôi, không đến nỗi không biết TĐTV là cái gì, nhưng bảo kể tên đủ 4 người thì tôi chịu. Đấy là tóm tắt kiến thức Cantopop (Cantonese popular music) của tôi vậy.

Về nhà liền online vào Google, tìm được hai video clip dưới đây, vừa nghe vừa lẩm bẩm: không ngờ thị hiếu âm nhạc mình lại có lúc xuống cấp như thế này, đã nghe nhạc Hoa, còn nghe thêm nhạc hải ngoại. Các bạn thứ lỗi cho cái định kiến cố hữu trong con người tôi, hai thứ nhạc đó từ xưa đến giờ chẳng mấy khi tôi lắng nghe. Các bạn kiên nhẫn chờ tôi vài lời giải thích. Lẽ cố nhiên, bỏ qua những định kiến ngôn ngữ, dân tộc, bất kỳ nền âm nhạc nào cũng có những điểm hay. Cantopop sản sinh ra rất nhiều ca khúc hay, đơn cử như bài này. Nhưng so với nhạc phương bắc, nhạc phương nam Trung Quốc có quá nhiều mùi… quân tử Tàu (đúng như nghĩa chúng ta hay dùng). Đã nghe nhiều nhạc bắc phương hay nên tôi có chút ác cảm với Cantopop.

Thứ đến là nhạc hải ngoại… Khi tôi còn nhỏ, ở những sân khấu trong nước, chỉ một cây organ được xem như “dàn nhạc”, thì nhạc hải ngoại với hòa âm phối khí, kỹ thuật hiện đại nghe khá ấn tượng. Nhưng cũng ngay từ lúc ấy, tôi đã nhận thấy, nhạc Việt hải ngoại như cây bị bứng khỏi gốc, ngày càng thiếu sinh khí, càng nặng về giải trí và nhẹ nghệ thuật. Những Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương… vốn cũng từ đất Việt này mà đi, nhạc của họ thời kỳ đỉnh cao nhất vẫn là lúc còn ở trong nước vậy. Hôm nay tạm bằng lòng với cái chất quân tử Tàu này một lúc vậy, suy cho cùng đó cũng là một thuộc tính của âm nhạc.

text=那有一天不想你&font=1&size=18&color=0000FF

nhạc việt lời hoa

Nắng chiều - Lệ Thu 

Việt Nam tình ca 

text=越南情歌&font=1&size=18&color=0000FF
text=作曲:黎重阮&font=2&size=18&color=111111
text=歌手:费玉清&font=2&size=18&color=111111

text=我又来到昔日海边&font=2&size=18&color=111111
text=海风依旧吹皱海面&font=2&size=18&color=111111
text=那样熟悉那样依恋&font=2&size=18&color=111111
text=只有旧日人儿不见&font=2&size=18&color=111111

Tôi lại tìm đến bến nước ngày xưa, gió cũng như năm nào lồng lộng thổi vào mặt. Bóng dáng cũ vẫn còn in đậm trong tôi, nhưng người xưa nay đã không còn thấy nữa…

hạc Hoa lời Việt là điều quá ư bình thường, hôm nay xin mạn phép post một vài bài nhạc Việt lời Hoa. Hiểu theo nghĩa: là nhạc Việt nhưng được đặt lời Hoa và có phổ biến ở Hồng Kông, Đài Loan hay Trung Hoa lục địa. Lục tìm trong kho Tân nhạc Việt Nam, bằng trí nhớ mù mờ của mình, tôi được biết ít nhất hai bài hát Việt đã được đặt lời Hoa, được hát và thành công lớn ở Hồng Kông và Đài Loan. Và kỳ lạ là cả hai bài đều xuất phát từ địa danh Hội An, Điện Bàn, Quảng Nam. Một bài là Nắng Chiều của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, một nữa là bài Xuân và tuổi trẻ của nhạc sĩ La Hối. Bài hát được biết đến trong tiếng Hoa dưới cái tên rất chi đại khái: Việt Nam tình ca hay Nam hải tình ca. Ngay từ phần đầu tiên của lời hát, đã có thể thấy nó được dịch thoát từ lời Việt:

Nghe trong tiếng Việt hay Quan thoại, bài ca đều rất hay. Nắng chiều có dáng nhạc thật đặc biệt, vì có cả giai điệu ngũ cung và thất cung hòa quyện vào nhau. Tìm kiếm bằng tiếng Hoa thật khó (ít nhất là với người không quen như tôi), tôi chỉ tìm được một bản karaoke của phiên bản tiếng Hoa này. Bản đầy đủ (do ca sĩ chuyên nghiệp trình bày) và cả ca khúc Xuân và tuổi trẻ xin khất lại đến hôm khác (Update Jan 20, 2009: bản lời Hoa trên do ca sĩ Đài Loan Phí Ngọc Thanh – 费玉清 trình bày. Về lời Hoa bản nhạc Xuân và tuổi trẻ, xin xem post sau).

Hội An là nơi đã từng có cuộc sống văn vật rất phong phú, vì là nơi tụ hội của cả người Việt, người Hoa, người Nhật. Mẹ tôi thường kể rằng, ngày xưa mỗi sáng ở Hội An, ở những nhà buôn bán, chủ nhà đều cầm bàn tính (gọi theo từ địa phương là bàn-xáng) gõ nhịp và hát một khúc ca cầu mua may bán đắt đầu ngày. Hai ca sĩ nổi tiếng “dòng nhạc dân tộc”: Ánh Tuyết ở trong nước và Ngọc Hạ ở hải ngoại đều xuất thân từ Hội An. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng viết trong hồi ký rằng cư dân Hội An là những người tiếp thu và hưởng ứng Tân nhạc nồng nhiệt nhất, suốt trên Con đường cái quan ông đã đi từ Bắc chí Nam theo gánh hát Đức Huy.

Dư âm cuộc sống tinh thần phong phú ngày trước vấn còn lưu lại đâu đó, mỗi lần tôi về Hội An, vẫn đi trong lòng phố cổ cố tìm lại những hương xưa… Nhớ lại những Tết năm nào, xác pháo đỏ và xác mai vàng nhuộm những màu-nguyên toàn thị xã, những không gian tuyệt đẹp phía Cẩm Nam, Cẩm Phô và vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Tiếc rằng rất nhiều điều đã mai một (phố cổ thì ít, phố kệch cỡm giả cổ thì nhiều) chính trong cái lòng phố nửa thôn quê, nửa thành thị ấy.

Một vài bìa nhạc Lê Trọng Nguyễn:

hồ trường

Hồ trường - Tôn Nữ Lệ Ba 

text=南方歌曲&font=1&size=18&color=0000FF

text=丈夫生不能披肝折&font=2&size=18&color=111111
text=槛,为世扶纲常。&font=2&size=18&color=111111
text=逍遥四海,胡为乎&font=2&size=18&color=111111
text=此乡。回头南望邈&font=2&size=18&color=111111
text=无极兮,天云一色&font=2&size=18&color=111111
text=徒苍苍。立功不成&font=2&size=18&color=111111
text=,学不就,少壮有&font=2&size=18&color=111111
text=几辰兮,坐视百年&font=2&size=18&color=111111
text=身世驱阴阳。抚掌&font=2&size=18&color=111111
text=狂歌问斯世,茫茫&font=2&size=18&color=111111
text=天地,安得知一知&font=2&size=18&color=111111
text=己兮,试来对酌佑&font=2&size=18&color=111111
text=予觞。予觞掷向东&font=2&size=18&color=111111
text=溟水,东溟之水万&font=2&size=18&color=111111
text=队起狂澜。予觞掷&font=2&size=18&color=111111
text=向西山雨,西山之&font=2&size=18&color=111111
text=雨一阵何汪洋。予&font=2&size=18&color=111111
text=觞掷向北风去,北&font=2&size=18&color=111111
text=风扬沙走石飞殊方&font=2&size=18&color=111111
text=。予觞掷向南天雾&font=2&size=18&color=111111
text=,雾中有人开口一&font=2&size=18&color=111111
text=饮蘧然醉。天地宇&font=2&size=18&color=111111
text=宙浑相忘,予不醉&font=2&size=18&color=111111
text=矣,予行予志。男&font=2&size=18&color=111111
text=儿自古事桑蓬,何&font=2&size=18&color=111111
text=必穷愁泣枌梓。&font=2&size=18&color=111111

gâm thơ là một loại hình kết hợp giữa văn chương và ca nhạc, và là loại hình nghệ thuật tôi hoàn toàn không biết gì. Những điệu ngâm Sa mạc, Bồng mạc, ca trù, ngâm Kiều, Tao đàn… tôi hoàn toàn mù mịt, dù trong nhà từ nhỏ được không ít lần thưởng thức ngâm thơ. Xin post ở đây một bản ngâm thơ tôi được biết, cũng là bài ba tôi thường ngâm mỗi lúc cao hứng, ngà ngà say. Đây là một bài thơ rất có giá trị trong văn học sử Việt Nam cận đại, và câu chuyện về người tác giả (dịch giả) của nó cũng bị cố tình lãng quên, không mấy ai được biết đến!

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường, Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương. Trời Nam nghìn dặm thẳm. Non nước một màu sương. Chí chưa thành, danh chưa đạt. Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc? Trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát. Nghiêng bầu mà hỏi. Đất trời mang mang ai người tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu? Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn! Rót về Tây phương, mưa Tây phương từng trận chứa chan. Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá dương! Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say? Lòng ta ta biết, chí ta ta hay. Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, Hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Cũng lại là một người con của làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam, vùng đất địa linh nhân kiệt số một Việt Nam, Nguyễn Bá Trác tham gia phong trào Đông Du, trở về nước năm 1914, ông cùng Phạm Quỳnh duy trì tờ Nam Phong tạp chí. Sau đó, ông làm Tuần phủ Quãng Ngãi, rồi Tổng đốc Thanh Hóa, Bình Định. Ông bị Việt Minh xử bắn lúc họ cướp chính quyền, ở Huế năm 1945. Tên tuổi Nguyễn Bá Trác không được “chính sử” nhắc đến, nhưng chỉ nhờ vào một bài thơ Hồ Trường, cốt cách, chí khí con người ông vẫn còn được truyền tụng và ngưỡng mộ đâu đấy, như đại diện của một lớp “những người muôn năm cũ”.

Đến nay, đã có đủ cơ sở để tầm nguyên lời thơ Hồ Trường. Có thể đọc nguyên văn phần nghiên cứu của tác giả Phạm Hoàng Quân ở đây. Bài thơ Hồ trường – hóa ra lại là phần lời của một bài hát không tên, tạm gọi là Nam Phương ca khúc – được đăng tải trong thiên ký sự Hạn mạn du ký của tác giả Nguyễn Bá Trác trên Nam Phong tạp chí, phần chữ Hán (từ số 22 đến số 35, năm 1919 – 1920); sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong (từ số 38 đến số 43, năm 1920 – 1921). Nam phương ca khúc nằm ở chương 10 trong thiên ký sự này.

Vào khoảng năm 1912, khi lưu lạc ở Thượng Hải, tác giả gặp một người đồng hương cùng chí hướng, người này có giọng hát hay (giọng Quảng Đông). Một đêm nọ, hai người đi uống rượu. Rượu ngà ngà, Nguyên quân đứng dậy mà hát, ở bàn bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, được trả lời: Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam, họ Lưu nói: nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, nam phương mà có điệu hát đến thế ru? Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ xem.

Nam phương ca khúc là một bài ca ấy không rõ tựa đề, không biết tác giả, Nguyễn Bá Trác đã chép lại toàn vẹn trong Hạn mạn du ký. Và khi Hạn mạn du ký được sang chữ Việt thì lời ca này đã được dịch rất thoát, linh động nương theo âm điệu tiếng Việt và có chỗ thêm tứ có chỗ bớt lời, khéo giữ được cái thần thái hào sảng của nguyên tác để có được một bài Hồ Trường như chúng ta được biết. (Hình bên phải: phần lời Hán văn của Nam Phương ca khúc, in trong Nam Phong tạp chí).

tầm dương giang đầu

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận,
Anh lụy đời quên bến khói sương.
Năm tháng, năm cung mờ cách biệt,
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương?

(Hoàng Cầm)

ề những tác phẩm Đường thi quan trọng, ai chỉ từng tham khảo những cuốn cơ bản như Đường thi nhất bách thủ (100 bài), Đường thi nhất thiên thủ (1000 bài), cũng đã thấy đó là cả một gia tài văn chương đồ sộ, ảnh hưởng của chúng đến đời sau thực không cần phải nói tới. Những ông bạn già ba tôi, những người quen của gia đình tôi, mỗi khi ngồi lại ăn nhậu với nhau, thế nào cũng có một vài câu Đường thi được đọc, ví dụ như:

Anh có thấy sông Hoàng Hà, Con sông vĩ đại nước sa lưng trời. — Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy, Thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Xin vơi một chén quan hà, Dương quan chốn ấy ai là cố nhân. — Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Sa trường say ngủ ai cười, Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu. — Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.Tầm Dương giang đầu dạ tống khách, Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.

Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, Nâng chén tiêu sầu sầu không vơi. Người đời nếu chẳng được như ý, Sớm mai xõa tóc cỡi thuyền chơi.Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu, Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu. Nhân sinh tại thế bất xứng ý, Minh triêu tản phát lộng biên châu.

text=君不见黄河之水&font=2&size=18&color=111111
text=天上来奔流到海不复回&font=2&size=18&color=111111

text=劝君更尽一杯酒&font=2&size=18&color=111111
text=西出阳关无故人&font=2&size=18&color=111111

text=醉卧沙场君莫笑&font=2&size=18&color=111111
text=古来征战几人回&font=2&size=18&color=111111

text=浔阳江头夜送客&font=2&size=18&color=111111
text=枫叶荻花秋瑟瑟&font=2&size=18&color=111111

text=抽刀断水水更流&font=2&size=18&color=111111
text=举杯消愁愁更愁&font=2&size=18&color=111111
text=人生在世不称意&font=2&size=18&color=111111
text=明朝散发弄扁舟&font=2&size=18&color=111111

Nguyệt cầm – Thái Thanh 

Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời. Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi. Long lanh tiếng sỏi vang vang hận. Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người… (Xuân Diệu)

Tiếng xưa – Thu Hiền 

Chiều thu nhớ nhung vì đâu, thắm đôi dòng châu, tiếc thay tại sao đành lỡ làng. Man mác khói hương bay dịu dàng. Như tóc mây vương dáng liễu mơ màng, cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương. Ai đó tri âm biết cùng

Tình cầm – Tuấn Ngọc 

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận, Anh lụy đời quên bến gió sương. Năm tháng, năm cung mờ cách biệt, Bao giờ em hết nợ Tầm Dương? (Hoàng Cầm)

Lúc nhỏ, tự học đọc và viết được Hán tự, thuộc vài ngàn bài Đường thi, Tống từ, tôi đã lấy làm tự phụ rằng còn thuộc nhiều thơ hơn cả mấy ông già bạn ba tôi. Chỉ sau này mới thấy cái vốn Hán học của mình bé như hạt cát, chỉ mới là dạng đọc mau nhớ thôi. Tuy vậy vài năm lúc tuổi nhỏ cũng đủ để nhận được cái hồn cổ văn lồng lộng, những u tình sâu kín, cũng đủ thấy cốt cách người xưa… Lớn lên, tôi dần cảm thấy thích âm nhạc hơn, mà xa rời văn chương, có lẽ vì âm nhạc dễ tiếp thu hơn, mà văn chương thì đòi hỏi quá nhiều công phu hơn.

Tuy vậy, ảnh hưởng của cổ văn, cổ thi, nó bàng bạc khắp nơi, không dễ gì thoát ra được. Ảnh hưởng lên văn học Việt Nam sâu đậm nhất, có lẽ không tác phẩm nào khác ngoài Tỳ Bà hành – Bạch Cư Dị. Không kể đến trong cổ văn (mà dấu vết của Tỳ Bà hành có thể được tìm thấy nơi nơi), ngay trong Thơ mới, dấu vết của nó cũng không ít. Câu chuyện của tác giả và người kỹ nữ đánh đàn tỳ bà tình cờ gặp lúc đêm khuya trên bến sông Tầm Dương để lại cho hậu thế biết bao nhiêu mối hoài cảm. Cả một áng thơ dài, câu nào cũng đầy tình ý:

Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.

Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu, mang hận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng lẽ bây giờ càng hay.

Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Tần ngần dường cảm lời ta,
Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.

Nghe não ruột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

Nguyên bản Hán văn, phiên âm cũng như bản dịch thơ nổi tiếng của Phan Huy Vịnh, xin đọc ở đây. Đọc Tỳ Bà hành rồi dễ liên tưởng đến tác phẩm có phần tương tự của thi hào Nguyễn Du: Long thành cầm giả ca – 龙城琴者歌, tuy nhiên bài này lại nặng về tính thế sự hơn là về tình cảm cá nhân, nên sự xúc động gây ra trong lòng người thiết nghĩ cũng không sâu sắc bằng:

Thành quách suy di nhân sự cải, Kỷ độ tang điền biến thương hải. Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong, Ca vũ không lưu nhất nhân tại – 城郭推移人事改,几度桑田变苍海,西山基业尽消亡,歌舞空留一人在。 Ảnh hưởng trong văn thơ thì đã quá nhiều rồi, hôm nay tôi xin đưa một vài ví dụ nhỏ, ảnh hưởng của Tỳ Bà hành trong Tân nhạc, bằng trí nhớ lu mờ của mình, xin chép tặng các bạn một vài bài nhạc hay mang âm hưởng của bến Tầm Dương năm xưa.

thật và giả – giả và thật

text=假作真时真亦假,&font=2&size=18&color=111111text=无为有处有还无。&font=2&size=18&color=111111

Chọn hai bài để “phô diễn” giọng hát Thái Thanh, thật tình cờ đều là hai bài valse rất nổi tiếng về dòng sông Danube, một bài do Phạm Duy, bài kia do Phạm Đình Chương đặt lời. Về nhạc, tôi thích âm giai minor buồn man mác của bài thứ hai hơn.

Le beau Danube bleu 
Lời Việt: Dòng sông xanh (Phạm Duy)

Les flots du Danube 
Lời Việt: Sóng nước biếc (Phạm Đình Chương)

ó đôi điều thật và giả về giọng hát Thái Thanh, cũng như về muôn chuyện thật giả khác trong đời. Giả và thật, thật và giả, nhiều khi khó phân biệt, nhưng đã trải qua nhiều chuyện đau buồn của cuộc sống, tôi có đôi điều muốn nói về “thật” và “giả”, chỉ qua một số nhận xét về giọng hát Thái Thanh. Giọng hát Thái Thanh, từ nhỏ được mẹ cho nghe, tôi đã thấy có điều gì “siêu nhiên” trong giọng hát này, nó quá cao vời, quá điêu luyện, một giọng hát “cưỡng lại sức hút của quả đất”, mà vẫn rõ chữ, chân phương theo đúng tiêu chuẩn đầu tiên của người làm ca sĩ.

Có nhiều cách đánh giá, nhưng xin nói từ đầu, đối với tôi, chuẩn mực đầu tiên là hát tròn và rõ chữ, hát như thể là tiếng nói hàng ngày. Xin nói rõ điều này bởi đa số ca sĩ Việt đương đại đều mượn giọng, bắt chước giọng… từ chỗ phát âm đã không là chính mình thì còn nói gì đến những bước đường nghệ thuật khác.

Lớn lên một chút, tôi được nghe nhiều hơn và đồng ý với nhận định của nhiều người đây là một giọng hát Việt đặc biệt mà trong thời gian một vài trăm năm không dễ gì có được. Ngưỡng mộ hết mực, nhưng thi thoảng tôi vẫn có chút ngờ vực, có chút băn khoăn: có điều gì khang khác sâu thẳm trong giọng hát ấy. Đến bây giờ, khi điều kiện phương tiện nghe nhìn tương đối đầy đủ hơn xưa, tôi có nhiều dịp kiểm chứng điều mình cảm nhận. Những ai thích ca hát, hay tập hát một chút (như karaoke chẳng hạn) sẽ dễ dàng nhận thấy điều này: ai cũng có nhiều loại giọng, cơ bản là có hai:

  • Chest voice (giọng ngực): là giọng mà chúng ta nói hàng ngày, như khi bạn cất tiếng hát một bài hát yêu thích, quen thuộc, thì chính là bạn đang dùng loại giọng đó. Khi bài hát có những nốt quá cao (hay quá thấp), vượt ra ngoài âm vực quen thuộc, bạn khó có thể phát âm chuẩn tại cao độ đó, hoặc là âm sắc sẽ méo mó, hoặc bạn buộc phải chuyển qua sử dụng một giọng khác.

  • Head voice (tôi gọi là giọng mũi): lúc này âm không còn phát ra tự nhiên từ ngực, bụng nữa mà chủ yếu từ cổ và mũi, nên dễ đạt cao hơn, nhưng mỏng và yếu hơn. Các ca sĩ đương đại không mấy ai sử dụng hai loại giọng trong cùng một ca khúc, đơn giản là vì hai giọng đó có âm sắc rất khác nhau, không thể để chung trong một bài hát nếu không muốn phạm một lỗi sơ đẳng. Lưu ý là đôi khi chúng ta hát lên (hay xuống) một tông (một octave), nhưng vẫn còn trong giọng cũ, chưa hẳn là đã chuyển qua giọng mới.

(Lạm bàn một chút, qua kinh nghiệm bản thân, tôi thấy một người có thể có nhiều loại giọng hơn nữa, phụ thuộc vào kỹ thuật thẩm âm và phát âm: có loại giọng “rung đổ hột” như trong Ca trù, có loại giọng luyến láy bay nhảy như trong Chèo, có loại giọng lạc nửa vời như trong Ca Huế… Dĩ nhiên là giọng và làn điệu ngũ cung là khác nhau, nhưng có thể nói một loại ngũ cung sẽ có những giọng của riêng mình.)

Điều mỉa mai là khá nhiều ca sĩ đương đại Việt Nam pha trộn cả hai loại giọng trên (head & chest voices) trong cùng một bài hát mà không cảm thấy hổ thẹn vì khinh thường khán giả. Các ca sĩ thật sự không ai làm thế, họ chọn bài hát phù hợp với chất giọng mình, nếu bài hát trải trên một âm vực quá rộng thì hoặc là tìm người có âm vực cũng rộng như thế, hoặc là hát đôi, hát ba… hoặc thay đổi bài hát…

Những bài nhạc phổ biến thường có biên độ trong khoảng 1.5 octave, một số bài khó có biên độ hơn 2 octave thì cần những ca sĩ điêu luyện mới biểu diễn được. Ca sĩ thật sự ít dùng giọng mũi, để khán giả biết đến mình từ chất giọng bình thường tự nhiên. Thường thì một ca sĩ dựa quá nhiều vào giọng mũi quyết không thể là một ca sĩ tốt.

Nếu như nghe Dòng sông xanh do Thái Thanh biểu diễn, bạn sẽ thấy một ca sĩ hát chanson musique với chất giọng opéra, vẫn rõ chữ rõ lời, như là thứ tiếng nói tự nhiên thường nhật. Nghe nhiều bản nhạc khác nữa của Thái Thanh, cũng như một số ca sĩ khác (như Mai Hương, Kim Tước…) dần dần tôi nhận ra một điều: thực sự họ hát bằng giọng mũi!. Một số ví dụ: Thu Chiến Trường (Kim Tước), Bà mẹ Gio Linh (Mai Hương), Ngày Trở Về (Ánh Tuyết)… chúng ta có thể nhận ra các ca sĩ này hát bằng giọng mũi rất rõ.

Một số ca sĩ như Lệ Thu, Khánh Ly… thì luôn hát với giọng thật của mình, cơ bản vì họ đã chọn hát ở một âm vực khá thấp. Còn với Thái Thanh, phải là người nghe và hiểu Thái Thanh nhiều thì mới có thể đoán biết được. Trong hai bài hát dưới đây, mỗi khi giọng Thái Thanh từ chỗ hơi chua đột nhiên chuyển sang rất tình cảm là lúc Thái Thanh trở về với giọng thật của mình. Khi nhận ra được điều này, tôi thật sự ngỡ ngàng, nhưng ngỡ ngàng để rồi yêu mến hơn.

Điều thực sự đặc biệt ở đây là: âm sắc giọng mũi của Thái Thanh giống, cũng vang, dày và mạnh như giọng ngực, được như thế đã là một điều kỳ lạ, còn kỳ lạ hơn nữa là lúc chuyển giữa giọng ngực và giọng mũi, hầu như không ai nhận thấy. Tại điểm break-up (điểm gãy) đó, người hát phải thay đổi cách thức vận động bên trong con người mình, khó có ai có thể chuyển giọng tự nhiên đến vậy được. Đến bây giờ thì tôi hiểu hơn những hạn chế của người Việt và cách họ khắc phục những hạn chế đó. Và tôi cũng “ngộ” được đôi chút về lẽ thật giả của cuộc sống:

  • Có nhiều người vốn thật, lại cứ muốn giả, khi đã giả rồi không về thật được nữa, vẫn muốn người khác nghĩ mình thật. Những trò hề đó ở ngoài đời thiệt không kể xiết, có quá nhiều tấn tuồng được diễn vụng về và ngây ngô, hằng ngày trước mắt. Thật đáng buồn và đáng buồn cười lắm thay!

  • Lại có người hiểu được lẽ đời là giả, vẫn gắng đem cái thân phận giả tạo này để làm thành điều thật, và được mọi người chấp nhận là thật. Ai đó tinh tế thấy được bản chất “không thật lắm” ở họ thì vẫn đem lòng yêu mến, vì hiểu rằng chẳng gì thật hơn được cái “giả” đó. Người như thế thực là hiếm và đáng quý lắm thay!

⓵⏎Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần): Giả tác chân thời chân diệc giả. Vô vi hữu xứ hữu hoàn vô – Giả bảo là chân, chân cũng giả. Không làm ra có, có rồi không.