mạch thượng tang

Tương cố bất tương kiến,
Thanh thanh mạch thượng tang.
Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý quân tâm thuỳ đoản tràng?

鄧陳琨
征婦吟曲

相顧不相見
青青陌上桑
陌上桑陌上桑
妾意君心誰短長

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2016, đâu đó trên đường Trường Sơn, Nghĩa Đàn, Nghệ An, một vùng đất đỏ bazan rất phì nhiêu, nhiều nông trường trồng trọt, chăn nuôi có thể tổ chức sản xuất lớn.

tự cựu hồng

Ven sông lầu gác trập trùng,
Đồn quân, dinh tướng tây đông mấy tòa,
Thịnh suy bốn chục năm qua,
Riêng sen vẫn giữ màu hoa thắm hồng.

高伯适
香江雜詠

一帶沿江甲第雄
五軍開府照西東
榮枯四十餘年事
惟有荷花似舊紅

ình chụp trong chuyến đi về ba tỉnh Bình – Trị – Thiên năm 2013, Thịnh suy bốn chục năm qua… có cảm giác rằng tâm sự thơ của Chu Thần Cao Bá Quát vẫn không cũ, vẫn có điều gì mang tính thời sự.

cầu hang tôm

Ngày về, biết đáp làm sao?
Ba Sơn mưa tối tràn ao thu đầy!
Bao giờ thắp nến song tây?
Cùng nhau kể, những đêm này mưa rơi!

李商隱
夜雨寄北


君問歸期未有期
巴山夜雨漲秋池
何當共翦西窗燭
卻說巴山夜雨時

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2016, gần thị xã Mường Lay, cây cầu được xem là khó xây dựng nhất VN. Nhìn thì bình thường, nhưng đến mùa nước thấp, mới thấy được trụ cầu cao hun hút.

các sa miên

Cỏ xanh như khói bến xuân tươi,
Lại có mưa xuân nước vỗ trời.
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách,
Con thuyền gối bãi suốt ngày chơi.

阮廌
寨頭春渡

渡頭春草綠如煙
春雨添來水拍天
野徑荒涼行客少
孤舟鎮日擱沙眠

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2017, gần Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Những mẫu thuyền thon dài truyền thống vẫn được ngư dân ưa chuộng sử dụng, bên cạnh những mẫu thuyền to bè hiện đại!

nhớ không vừa

王安石
示長安君

少年離別意非輕
老去相逢亦愴情
草草杯盤共笑語
昏昏燈火話平生
自憐湖海三年隔
又作塵沙萬里行
欲問後期何日是
寄書應見雁南征

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2016, đi ngang qua trường cấp 2 cũ – Trưng Vương – Thánh Tâm – Đà Nẵng, những năm tháng học ở đây, bao nhiêu kỷ niệm xưa cũ ngỡ đã quên bỗng ùa về…

Thiếu niên ly biệt ức phi khinh,
Lão khứ tương phùng diệc sảng tình.
Thảo thảo bôi bàn cung tiếu ngữ,
Hôn hôn đăng hỏa thoại bình sinh…

Biệt ly tuổi trẻ nhớ không vừa!
Gặp gỡ tình già đã não chưa?
Mâm chén sơ sài ngồi đối mặt,
Ngọn đèn leo lét chuyện ngày xưa…

thu phong từ

李白
秋風詞

秋風清
秋月明
落葉聚還散
寒鴉棲復驚
相思相見知何日
此時此夜難為情

ình chụp trong chuyến xuyên Việt năm 2014, chụp tình cờ bằng điện thoại nên không được rõ nét lắm, cảnh sắc trăng chiều mơ hồ, bỗng gợi nhớ đến một bài thơ của Lý Bạch…

Mùa thu con gió trong veo,
Mùa thu trăng sáng dõi theo bóng nàng.
Lá bay kìa, hợp rồi tan,
Lạnh lùng quạ khóc, miên man đêm trường.
Bao giờ gặp lại người thương?
Đêm này, tình ấy, tỏ tường cùng ai?

thuật và đạo

術與道

hân chuyện nhiều VĐV VN dành được huy chương với bộ môn Jiujitsu tại ASIAD 2018 vừa qua… Jiujitsu dịch từ Kanji – tiếng Nhật sang âm Hán Việt chính là Nhu thuật, vậy nó khác với Nhu đạo – Judo như thế nào!?

Sách vở TQ xưa phân biệt rõ giữa Thuật và Đạo: Đạo là nguyên lý tổng thể, Thuật là kỹ thuật cụ thể. Phải tuỳ tình huống, không thể tuỳ tiện “phán” cái nào “cao” hơn cái nào. Ở Nhật Bản, ít nhất là từ gần 100 năm nay, đã có sự phân biệt rõ ràng, ví dụ như: Kendo là Kiếm đạo, Kenjutsu là Kiếm thuật, Judo là Nhu đạo, Jiujitsu là Nhu thuật, Aikido là Hiệp khí đạo, Aikijutsu là… Hiệp khí thuật… tương tự cho nhiều môn võ khác. Ở TQ hiện tại, trên danh nghĩa không có sự phân biệt đó, mặc dù trong thực tế vẫn có!

Chuyện bắt đầu khi Nhật Bản tiến hành hiện đại hoá các môn võ cổ truyền cách đây non 100 năm: chuẩn hoá, hệ thống hoá các bài bản, đồng thời loại bỏ các đòn thế nguy hiểm, dể gây chấn thương, chết người (các kiến thức đó được bảo lưu trong phần Thuật). Các võ sinh sẽ không được dạy những đòn thế nguy hiểm cho đến khi họ đạt đến một trình độ nhất định. Khi đó, xuất phát từ Đạo, họ sẽ bước chân vào Thuật, và khi đã đi thật xa trên con đường Thuật, đến một lúc họ sẽ… quay trở về với Đạo.

Võ học ngày nay đã không còn chức năng chiến đấu sinh tồn như trước, đa số người học là mục đích thể thao, dưỡng sinh. Thế nên đa số chỉ cần Đạo, một số ít các nghề đặc thù như cảnh sát, đặc công… mới cần Thuật. Không nên nghĩ Thuật chỉ là đôi ba đòn thế bí truyền nguy hiểm, lượng kiến thức được xác định là “hạn chế dạy” này thực sự rất khổng lồ. Tương tự, Thái Cực quyền TQ ngày nay là một môn dưỡng sinh, không phải võ chiến đấu, còn những ai muốn tìm hiểu sâu hơn, xin mời lên núi Võ Đang!

Thuật và Đạo giống như hai mặt của một đồng xu, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Nếu như Đạo đặt nặng vấn đề xây dựng những giá trị thể chất và tinh thần con người, thì Thuật lại đi sát với mục đích sơ khai của võ học, đó là để tự vệ hay khống chế đối phương, hay nói thẳng ra, đôi khi là để làm sao giết người nhanh nhất, hiệu quả nhất. Trong trường hợp của Nhật Bản là duy trì phát triển cả hai với hai “trường phái” tuy chung gốc, nhưng hơi khác nhau về phương châm, phương pháp: Thuật và Đạo.

Nếu đã hiểu vấn đề đến đây, thì mới thấy các chiêu trò “thách đấu” võ công, Thái Cực quyền, MMA, etc… mà báo chí cố tình “lăng xê” lâu nay thực ra chỉ là những thứ nhảm nhí, lợi dụng sự “mù mịt” của độc giả để câu view, nguỵ tạo tình huống có vẻ “trớ trêu”, gây sóng gió dư luận vớ vẩn, mà không hề biết “trời cao đất dày” như thế nào! Thực sự thì những điều đó chỉ có một lượng độc giả nhất định ở VN hay TQ, chứ với trình độ dân trí như ở Nhật Bản thì từ lâu họ đã thông suốt, phân biệt được Thuật và Đạo.

tần thời minh nguyệt

王昌齡
出塞

秦時明月漢時關
萬里長征人未還
但使龍城飛將在
不教胡馬渡陰山

hi nhỏ, một mình tự học Hán tự, tự đọc thơ Đường, mọi thứ đều là trên giấy trắng mực đen, thông tin không được phong phú, đa phương tiện, đa chiều như bây giờ. Tất cả chỉ là một mình tự thưởng thức cái đẹp, những gì lịch sử còn lưu lại, Đường thi với gần 5 vạn (50 000) bài của hơn 2 ngàn tác giả (số lượng thực tế chắc chắn lớn hơn nhiều, không kể phần đã thất truyền, mai một qua hơn 1200 năm biến động lịch sử).

Kho tàng văn hoá đồ sộ như thế, Trung Quốc lâu lâu bẻ ra một miếng là làm thành một bộ phim, thỉnh thoảng trích một câu là làm được một series truyền hình, thậm chí còn không cần tới một câu, Tần thời minh nguyệt mới có 4 chữ trong một câu 7 chữ. Trông người lại ngẫm đến ta, xưa có câu Nôm na là cha mách qué, ý nói về bản chất, ngôn ngữ Việt cũng thể… phường “ba que xỏ lá”, chẳng có thực chất, thành quả gì!

Lại nói gần đây, giới ngôn ngữ học có xu hướng đánh giá mới cho rằng, thực ra “tiếng Việt” chưa phải là một ngôn ngữ đầy đủ, hoàn chỉnh, mà mới chỉ là một “Creole language”, một dạng tập hợp, hình thành tạm bợ, nhất thời từ nhiều nguồn khác nhau, thừa hưởng cấu trúc ngữ pháp từ gốc gác Môn – Khmer, tiếp nhận hệ thống thanh điệu từ phía Tày – Thái và vay mượn một lượng rất lớn từ vựng từ nguồn Hán tự… 😞 😞

“san” hành đoản ca

ột chiều trên tỉnh lộ 206 từ Đàm Thuỷ, Trùng Khánh, Cao Bằng (thác Bản Giốc) chạy về thị trấn Phục Hoà, giáp ranh TQ. Con đường rất đẹp đi qua vùng biên giới hoang vắng, hiếm hoi lắm mới thấy được một mái nhà, một bóng người. Đã hơn 5h chiều, khu dân cư gần nhất vẫn còn cách tầm 50 km, trời rét dưới 10 độ, bụng đói cồn cào. Đang không hy vọng gì có được một bữa tối êm ấm, thì qua một khúc quanh, bỗng đâu xuất hiện một quán… heo quay. Tin nổi không, một quán heo quay lá mắc mật nằm trơ trọi giữa núi rừng. Vội ghé vào, chủ quán là người Tày, trong bộ áo quần lĩnh đen truyền thống, đầu chít khăn mỏ quạ cũng đen nốt, bất giác cảm thấy như đang ở trong một phim cổ trang nào đó. Thật đúng là:

Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung,
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu
Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng!

Xưa nay phường danh lợi,
Bôn tẩu trên đường đời.
Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
Say cả, hỏi tỉnh được mấy người?

(Trích từ trong bài thơ Sa hành đoản ca của Cao Chu Thần – Cao Bá Quát đã đăng cách đây rất nhiều năm). Gọi thầm trong bụng: Tiểu nhị, cho 2 cân thịt và 1 vò rượu! 😀 Trời lạnh cóng thế này, không có gì khoái khẩu hơn những món ăn nhiều mỡ, làm liền một lúc 3 lạng heo quay, vẫn còn thòm thèm! Chủ quán đem rượu Táo mèo ra mời, ngồi nói chuyện lai rai, không tiện từ chối, cũng làm chừng 3 ly nhỏ để cho ấm cơ thể! Thầm nghĩ trong đầu, hết chỗ rượu thịt này, chủ quán mà kêu lên: 1, 2, 3, đổ này, đổ này! thì nguy khốn, có khi sắp trở thành bánh bao đến nơi! 😬 Nghĩ vậy thôi, chứ thực ra là chưa bao giờ gặp được một nữ chủ quán dễ thương, có giọng nói ngọt ngào, êm dịu đến như thế giữa núi rừng Đông Bắc!

vân hoành tần lĩnh

韓愈
左遷至藍關示姪孫湘

雲橫秦嶺家何在
雪擁藍關馬不前

ăm với tôi không phải là mê tín, đơn giản chỉ là một trò chơi chữ nghĩa giải trí. Hôm trước vừa tự “sáng tác” ra một trò gọi là “Cổ thi thiêm”, chọn 100 câu thơ Đường thật hay làm quẻ, đánh số từ 1 đến 100, rồi “randomize” – lấy ngẫu nhiên một số để đoán xem “hạn vận” thế nào. Bốc được ngay một câu của Hàn Dũ: Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại, Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.

Dịch nghĩa: Mây giăng ngang dãy núi Tần, nhà của ta ở đâu? Tuyết phủ đầy cửa ải Lam, ngựa không tiến lên được! Haizzaaa, là điềm báo sự việc không được suôn sẻ, cái gì là “nhà ở đâu”, thế nào là “ngựa không tiến”!? Nhưng mà nghĩ đi nghĩ lại, mình đi bằng xuồng chứ có đi bằng ngựa đâu, nên… thực ra cũng chẳng có can hệ gì, thôi kệ nó, xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều! 😬

the left ear

yêu, nếu như đúng thì gọi là ái tình. Yêu, nếu như sai thì gọi là tuổi thanh xuân – When love lasts, it’s true love, when it doesn’t, it’s youth! 爱对了是爱情。爱错了是青春。。。

tiêu hạ khách

蕉下客

iả Thám Xuân – “cô Ba hoa hồng” của phủ Vinh quốc công – Tiêu hạ khách của Hải Đường thi xã – 30 năm trước xem phim chỉ thích mỗi một nhân vật này! Không xinh đẹp như Tiêu Tương phi tử – Lâm Đại Ngọc, không thông minh như Hành Vu quân – Tiết Bảo Thoa, nhưng tài năng, phẩm hạnh đôi đường trọn vẹn, trong Kim Lăng thập nhị thoa chính sách vẫn là người có kết cục tốt đẹp nhất, phúc trạch được viên mãn về sau!

Đường xa mưa gió một chèo
Cửa nhà, ruột thịt thôi đều bỏ qua.
Con đành lỗi với mẹ cha,
Khóc thương chỉ thiệt thân già đấy thôi.
Cùng thông số đã định rồi,

Hợp tan âu cũng duyên trời chi đây.

Phân chia hai ngả từ nay,

Dám mong giữ được ngày ngày bình yên.

Con đi xin chớ lo phiền!

uổng ngưng mi

枉凝眉

àn cổ tranh và diễn xướng, bài Uổng ngưng mi, chính là bài nhạc giáo đầu phim Hồng lâu mộng phiên bản 1987. Càng nghe càng thấy “nể và sợ” gia tài văn hoá, thi ca, âm nhạc cổ điển Trung Hoa. Mặc dù với thời gian, chiến tranh, loạn lạc… nhạc phổ các thời Tống, Nguyên trở về trước hầu như đã tiêu tán, thất truyền hoàn toàn, nhưng nhạc phổ của các triều Minh, Thanh vẫn còn được bảo tồn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay!

Một bên hoa nở vườn tiên,
Một bên ngọc đẹp không hoen ố màu.
Bảo rằng chẳng có duyên đâu,
Thì sao lại được gặp nhau kiếp này?
Bảo rằng đã sẵn duyên may,

Thì sao lại chóng đổi thay lời nguyền?
Một bên ngầm ngấm than phiền,

Một bên đeo đẳng hão huyền uổng công!

Một bên trăng rọi trên sông,

Một bên hoa nở bóng lồng trong gương.

Mắt này có mấy giọt sương,

Mà tuôn chảy suốt năm trường, được chăng?

sơn pha dương

山坡羊

oi mãi không chán, đoạn này, Quách Tĩnh cõng Hoàng Dung lên núi cầu xin Nhất Đăng đại sư trị thương, gặp người Tiều phu, một trong bốn đệ tử của Nhất Đăng. Đoạn phim không có đánh đấm gì, đơn giản chỉ là “khoe” kho tàng văn hoá cổ Trung Quốc! Người tiều phu thoạt tiên hát một điệu Sơn pha dương, bài Hàm Dương hoài cổ, rồi lại tiếp tục hát theo điệu đó, một bài Đồng Quan hoài cổ.

Hoàng Dung bèn đáp lại cũng bằng một bài theo điệu Sơn pha dương – Đạo tình. Phải hiểu cổ văn thì mới cảm nhận hết được cái hay tuyệt diệu của trường đoạn phim này, hai người đối đáp với nhau chỉ toàn dùng thơ và nhạc, trích dẫn ba bài thơ đời Nguyên và một điệu nhạc “Sơn pha dương”. Đồng thời cũng thấy rõ dụng tâm, công phu dàn dựng đoạn phim, giới thiệu đồng thời cả cổ văn và cổ nhạc Trung Quốc!

ngũ bách niên tang điền thương hải

五百年桑田滄海

ại nói về phim Tây Du Ký. Những năm 80, xã hội TQ bắt đầu có chút cởi mở, người làm phim mượn hình ảnh Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành suốt 500 năm để khéo léo phản đối nhà cầm quyền: Ròng rã năm trăm năm, Ruộng dâu hoá bể xanh, Đá mòn rêu xanh bám, Nhưng trái tim vẫn lành. Vẫn hướng về tự do, Ngại chi ngày lửa đỏ… May mắn đây đã là những năm của “Lão Đặng” với cái lý luận “mèo đen, mèo trắng”…

Năm trăm năm, vật đổi sao dời,
Đá vô tri cũng ngậm ngùi rêu xanh.
Năm trăm năm! năm trăm năm!
Ngũ Hành Sơn nặng, giam cầm thân ta.
Bao ngày tuyết nổi, sương sa,
Cuối trời hút bóng, mắt nhoà cánh chim.
Còn đây rạo rực trái tim,
Thương về chốn cũ, mãi tìm tiêu dao.
Anh hùng ngang dọc trời cao,
Sá chi lửa đốt, sợ nào giá băng.
Vẫn nguyên chí hướng tung hoành,
Lòng tin ở lẽ công bằng vẫn nguyên.
Tiếc thay năm tháng triền miên,
Trách ta, thành kẻ than phiền, vô công.
Vì sao, vì sao? Chí tang bồng,
Thành thân cá chậu, chim lồng hỡi ai!?

thành ngữ 4 chữ

四个字的成语









ưa xem phim Hoàn Châu cách cách, Tiểu Yến Tử sau khi học Tam tự kinh (kinh 3 chữ) thì tiếp tục học sử dụng thành ngữ 4 chữ. Đây là khởi đầu của vô số màn hài hước đặc sắc trong phim, vì Tiểu Yến Tử thì siêu dốt về chữ nghĩa, mà thành ngữ 4 chữ trong cổ văn TQ có đến hàng vạn vạn 😬. Chỉ riêng những thành ngữ bắt đầu với chữ “nhất” cũng có đến 3 ngàn, học 1 chữ “nhất” này cả năm cũng chưa hết, ví dụ như:

Nhất ngôn vi định, nhất phàm phong thuận, nhất nhật tam thu, nhất phiến băng tâm, nhất tự thiên kim, nhất đao lưỡng đoạn, nhất bản vạn lợi, nhất bộ đăng thiên, nhất ngôn nan tận, nhất ngôn cửu đỉnh, nhất hô bách ứng, nhất diệp tri thu, nhất lộ bình an, nhất tiễn song điêu, nhất cử lưỡng tiện, nhất thạch nhị điểu, nhất thế chi hùng, nhất kiến như cố, nhất quốc tam công, nhất triêu nhất tịch, nhất tảo nhi không, nhất tự vi sư, etc…

Cái sự dốt của Tiểu Yến Tử được sử dụng làm yếu tố gây cười xuyên suốt phim, đồng thời với khán giả mà nói, cũng là một công cụ giáo dục. Thành ngữ 4 chữ rất phổ biến trong cổ văn TQ, đôi khi cả đoạn văn dài dùng toàn thành ngữ, nghe cân đối, nhịp nhàng, ngắn gọn, súc tích. Ngay cả khi không dùng thành ngữ thì thói quen dùng cụm 4 từ cũng rất phổ biến trong hành văn cổ, như thế nghe mới có vẻ “có học thức” và “sang trọng”.

Con đường đào tạo từ một cô gái mãi võ giang hồ trở thành một công chúa quý tộc phải trãi qua rất nhiều chông gai, đầu tiên là những bước giáo dục cơ bản này. Mặc dù chưa bao giờ thật sự thích xem những kiểu phim drama như Hoàn Châu cách cách, nhưng vẫn xem để học thêm về cổ văn (tốt nhất nên xem phụ đề tiếng Trung). Dưới đây là một số thành ngữ 4 chữ phổ biến thường sử dụng trong phim kiếm hiệp, cổ trang:

牛嚼牡丹 – Ngưu tước mẫu đơn – Bò ăn hoa mẫu đơn
猫哭老鼠 – Miêu khốc lão thử – Mèo khóc chuột già
笑里藏刀 – Tiếu lý tàng đao – Dấu dao trong nụ cười
海里捞针 – Hải lý lao châm – Mò kim đáy bể
班门弄斧 – Ban môn lộng cân – Múa rìu trước cửa Lỗ Ban
借刀杀人 – Tá đao sát nhân – Mượn đao giết người
冤家路窄 – Oan gia lộ trách – Ngõ hẹp gặp oan gia
水中捞月 – Thủy trung lao nguyệt – Mò trăng đáy nước
打草惊蛇 – Đả thảo kinh xà – Đánh cỏ động rắn
对牛弹琴 – Đối ngưu đàn cầm – Đàn gảy tai trâu
过河拆桥 – Quá hà sách kiều – Qua cầu rút ván
落叶归根 – Lạc diệp quy căn – Lá rụng về cội
亡羊补牢 – Vong dương bổ lao – Mất bò mới lo làm chuồng
守株待兔 – Thủ chu đãi thố – Ôm cây đợi thỏ
顺水推舟 – Thuận thuỷ thôi chu – Thuận nước đẩy thuyền
以卵击石 – Dĩ noãn kích thạch – Lấy trứng chọi đá
走马观花 – Tẩu mã quan hoa – Cưỡi ngựa xem hoa
斩草除根 – Trảm thảo trừ căn – Nhổ cỏ tận gốc
一箭双雕 – Nhất tiễn song điêu – 1 mũi tên trúng 2 đích
半斤八两 – Bán cân bát lượng – Kẻ tám lạng, người nửa cân
不共戴天 – Bất cộng đái thiên – Không đội trời chung
不可思谊 – Bất khả tư nghì – “Không thể giảng cho hiểu được”
闭月羞花 – Bế nguyệt tu hoa – Hoa nhường nguyệt thẹn
甘拜下风 – Cam bái hạ phong – Cam chịu nhận thua
指腹为婚 – Chỉ phúc vi hôn – Hứa hôn từ trong bụng mẹ
孤掌难鸣 – Cô chưởng nan minh – 1 bàn tay vỗ không thành tiếng kêu
强词夺理 – Cưỡng từ đoạt lý – Nguỵ biện, nói xàm xí
造极登峰 – Tạo cực đăng phong – Đạt tới đỉnh cao
同归于尽 – Đồng quy vu tận – Cả 2 cùng chết
一帆风顺 – Nhất phàm phong thuận – Thuận buồm xuôi gió
拔刀相助 – Bạt đao tương trợ – Rút đao giúp đỡ
衣锦还乡 – Y cẩm hoàn hương – Áo gấm về làng
掩耳盗铃 – Yểm nhĩ đạo linh – Bịt tai trộm chuông
恒河沙数 – Hằng hà sa số – Nhiều như số hạt cát bên bờ sông Hằng
木已成舟 – Mộc dĩ thành chu – Ván đã đóng thuyền
锦衣夜行 – Cẩm y dạ hành – Áo gấm đi đêm
饮水思源 – Ẩm thuỷ tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn
流沙掌中 – Lưu sa chưởng trung – Cát chảy trong lòng bàn tay
望子成龙 – Vọng tử thành long – Mong con thành tài
传宗接代 – Truyền tông tiếp đại – Nối dõi tông đường
反复无常 – Phản phục vô thường – Thường xuyên thay đổi
了如指掌 – Liễu như chỉ chưởng – Rõ như trong lòng bàn tay
幸灾乐祸 – Hạnh tai lạc hoạ – Cười trên nỗi đau của người khác
狐假虎威 – Hồ giả hổ uy – Cáo mượn oai hùm
两全其美 – Lưỡng toàn kỳ mỹ – Vẹn cả đôi đường
措手不及 – Thố thủ bất cập – Trở tay không kịp
望梅止渴 – Vọng mai chỉ khát – Trông mơ giải khát, ăn bánh vẽ
一刀两断 – Nhất đao lưỡng đoạn – Chém 1 đao thành 2 khúc
夜长梦多 – Dạ trường mộng đa – Đêm dài lắm mộng
炉火纯青 – Lô hoả thuần thanh – Lửa trong lò toàn 1 màu xanh
同床异梦 – Đồng sàng dị mộng – Chung giường nhưng khác mộng
失之毫厘,差之千里 – Thất chi hào ly, sai chi thiên lý
宁为玉碎,不为瓦全 – Trữ vi ngọc toái, bất vi ngoã toàn
良药苦口,忠言逆耳 – Lương dược khổ khẩu, trung ngôn nghịch nhĩ
道高一尺,魔高一丈 – Đạo cao nhất xích, ma cao nhất trượng
处女守身,处士守名 – Xử nữ thủ thân, xử sĩ thủ danh
英雄气短,儿女情长 – Anh hùng khí đoản, nhi nữ tình trường
近朱者赤,近墨者黑 – Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc
近在眼前,远在天边 – Cận tại nhãn tiền, viễn tại thiên biên
龙生九子,各不相同 – Long sinh cửu tử, các bất tương đồng
永结同心,百年好合 – Vĩnh kết đồng tâm, bách niên hảo hợp
江山异改,本性难移 – Giang sơn dị cải, bản tính nan di
白刀子进,红刀子出 – Bạch đao tử tiến, hồng đao tử xuất
君子报仇,十年不晚 – Quân tử báo cừu, thập niên bất vãn
十年树木,百年树人 – Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân
狗口里生,不出象牙 – Cẩu khẩu lý sinh, bất xuất tượng nha
老鼠看书,咬文嚼字 – Lão thử khán thư, giảo văn tước tự
青山不改,泉水长流,后会有其 – Thanh sơn bất cải, tuyền thuỷ trường lưu, hậu hội hữu kỳ

thanh mai trúc mã

青梅竹马

ọc truyện, xem phim thường thấy sử dụng thành ngữ “thanh mai trúc mã”, nhưng không để ý lắm đến xuất xứ của nó, hôm nay chợt nghĩ ra, “bụng đầy thơ” như mình sao bây giờ mới nhận ra chính là từ trong bài Trường Can hành của Lý Bạch hay đọc hồi nhỏ: Thiếp phát sơ phú ngạch, Chiết hoa môn tiền kịch, Lang kỵ trúc mã lai, Nhiễu sàng lộng thanh mai, Đồng cư Trường Can lý, Lưỡng tiểu vô hiềm sai, Thập tứ vi quân phụ…

Dịch nghĩa: Tóc em khi mới xoã ngang trán, Bẻ hoa trước cửa nhà chơi, Chàng cưỡi ngựa tre lại, Chạy quanh giường nghịch ném quả mơ xanh. “Trúc mã” chính là cây gậy trúc mà mấy cậu nhóc hay đóng giả làm ngựa, “thanh mai” là quả mơ chế biến thành món ô mai mà các cô bé hay ăn. Bài thơ mô tả chuyện tình của 2 đứa bé lớn lên bên nhau, từ nhỏ đến khi thành niên. Haizza, ai xui ngày xưa cụ Lý Bạch viết “ngôn tình” vậy ta!? 😀

Trường Can hành – Lý Bạch

Trán em tóc mới chấm ngang,
Bẻ hoa trước ngõ, ngoài đàng đứng chơi.
Ngựa tre, chàng cỡi tới nơi,
Vui đùa ném trái mơ chơi quanh giường.
Trường Can, cùng chỗ náu nương,
Trẻ thơ chẳng có vấn vương ý gì.
Lấy chàng, mười bốn, biết chi!
Thẹn thùng, nên chẳng mấy khi ra ngoài.
Cúi đầu, quay mặt vách hoài,
Nghìn lần chàng gọi, không quay một lần.
Mười lăm, mày mới nở dần,
Nguyện cùng gian khổ quây quần bên nhau.
Tin nhau từ thuở ban đầu,
Có đâu nghĩ chuyện lên lầu ngóng trông.
Mới năm mười sáu, xa chồng,
Cù Đường, Diễm Dự, xót trông xa vời.
Tháng năm, chẳng đến được nơi,
Mãi nghe tiếng vượn bên trời bi ai.
Trước sân, dấu bước in dài,
Giờ rêu xanh phủ, đều phai mờ rồi.
Rêu dầy, khó quét, đành thôi,
Gió thu sớm thổi, lá rơi rụng đầy.
Bướm vàng tháng tám, lượn bay,
Từng đôi trên cỏ vườn tây chập chờn.
Lòng em chua xót, cô đơn,
Má hồng thấy đã già hơn trước rồi.
Tam Ba, chàng sẽ xuống thôi,
Gửi thư báo trước về nơi quê nhà.
Đón chàng chẳng quản đường xa,
Trường Phong Sa đến, thế là gặp nhau.

tháng năm vội vã

匆匆那年





háng năm vội vã – Thông thông na niên, một phim hay cho độ tuổi thanh niên (và cho cả những người đã lớn muốn soi lại quãng đời tuổi trẻ đã qua). Tuy không phải là quá hay trong cảm nhận của tôi, nhưng phim có một bản nhạc cùng tên tuyệt vời, giọng hát như mây bay, nước chảy, như gió thổi của Vương Phi, và cái tiết tấu vội vàng của nó, như những hình ảnh mau chóng lướt qua, những hồi ức đẹp đẽ về những tháng năm tuổi trẻ say mê và khờ dại.

Trong con mắt khán giả phương Tây, những nhân vật chính trong phim hiện ra có chút nông nổi, thiếu kiềm chế và nhẫn nại trước những sóng gió, đổi thay trong cuộc đời, để cuộc tình có nhiều hệ luỵ đau thương. Nhưng đó chính là những gì diễn ra trong một xã hội đang trên đà mở cửa, đang thị trường hoá, một chút khủng hoảng “giá trị cá nhân”, ai cũng mãi chạy theo “một điều gì đó”. Cũng là những gì tuổi trẻ chưa thể có, chưa hiểu thấu chính mình, chưa lường trước hết những ngã rẽ trong cuộc đời.

Ca từ viết rất hay, có thể gián tiếp nói lên những điều vốn rất khó thành từ ngữ, ý tại ngôn ngoại: Đừng trách mối tình không có thời gian để tập luyện, chính là tháng năm đã khoan dung ban tặng thời gian để chúng ta quên đi lời hẹn ước. Đừng trách ai cũng không thể có một lần yêu trọn vẹn, chính là thời gian đã thiện ý lưu lại cho chúng ta những vấn vương vụn vỡ. Bởi chúng ta đã không hiểu rằng những lời hứa mãi bên nhau cố chấp ấy chỉ là những lời báo trước chia tay.

tỉnh để chi oa

張三豐
無根樹

道法流傳有正邪
入邪背正遍天涯
飛騰罕見穿雲鳳
陷溺多成落井蛙

ề thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng”… hôm nay đọc được một bài thơ rất hay của Trương Tam Phong đạo trưởng, đề ở đầu tập thơ Vô căn thụ (Cây không gốc). Ai đọc Kim Dung hay xem kiếm hiệp Hồng Kông thì hẳn biết Trương chân nhân Quân Bảo là tổ sư của Võ Đang, nhưng cũng là một nhân vật lịch sử có thật, để lại nhiều tác phẩm văn thơ Đạo giáo.

Trương Tam Phong – Vô căn thụ

Đạo pháp lưu truyền hữu chính tà,
Nhập tà bội chính biến thiên nhai.
Phi đằng hãn kiến xuyên vân phụng,
Hãm nịch đa thành lạc tỉnh oa…

Dịch nghĩa: Đạo học lưu truyền có chính, có tà, Theo tà phản bội lại chính đâu đâu cũng có. Bay lên trời xuyên qua mây như chim phượng thì rất ít thấy, Mà rơi xuống thành con ếch ngồi đáy giếng thì lại rất nhiều. Chú thích: “Lạc tỉnh oa” – 落井蛙, lạc là rơi xuống, tỉnh là cái giếng, oa là con ếch, “lạc tỉnh oa” hay “tỉnh để chi oa” tức là “ếch ngồi đáy giếng” vậy.

nam quốc sơn hà

ã đọc nhiều hoành phi ca tụng công đức nghe sến, nhàm… Riêng tại miếu Lam Sơn động chủ (Lê Thái Tổ – Lê Lợi), Lam Kinh, bức hoành đề 6 chữ rất hay: 南國山河自此Nam quốc sơn hà tự thử – Sông núi nước Nam… từ đó… Kiểu như bây giờ hiện đại viết phải có dấu 3 chấm lửng, muốn ngắt câu thế nào, muốn điền gì vào chỗ trống thì điền.