xăm – 2018

iềng vốn vô thần (atheist) tuyệt đối: không Thần, không Phật, không Chúa, không thờ cúng, lễ lạc, không ông Địa, thần Tài, không mê tín dị đoan, không xem bói, xem ngày, thậm chí không cả thờ cúng tổ tiên, etc… Các thể loại xăm chẳng qua chỉ là một trò chơi chữ nghĩa mang tính chất giải trí. Nghĩ thế nào mà ngày đầu năm mới Âm lịch 2018 lại bốc một lá xăm, đúng ngay quẻ số 09 Đại Cát (khá hiếm), xem có câu: Kim triêu hỉ sắc thượng mi đoan – Sáng nay sắc vui hiện lên cuối khoé mi, lại bảo có thư về trước cửa. Haizzaa, để xem xem trong năm là sự việc gì đây!

si – tri – nghi

ùng một chữ để tự mô tả cá tính của chính mình, đó là chữ “si” (si mê, ngu si), chữ “si” Hán tự có hai cách viết: 痴 và 癡. Cách thứ nhất là chữ “tri” – 知 (hiểu biết) bên trong bộ “nạch” (bộ “nạch” – 疒 nghĩa là bệnh tật). Cách thứ hai là chữ “nghi” – 疑 (nghi ngờ) cũng trong bộ “nạch”. Dù là biết (tri) hay không biết (nghi) thì cũng đều là “si”! 😢 😀

hương chung

hiết bị hết sức tiên tiến, hiện đại này gọi là “hương chung” – 香鍾, chính là cái đồng hồ báo thức thời cổ đại. Vòng hương xoắn có buộc 1 đồng xu hay viên bi, tạo mùi thơm dể ngủ, vừa xua đuổi côn trùng, được canh chính xác cháy hết thì làm rơi đồng xu xuống cái chậu đồng ở bên dưới, gây nên tiếng động đánh thức chủ nhân dậy! 🙂 :V P/S: Đang cố tập thói quen dậy lúc 5 AM mà tập mãi chưa được… 😞

cổ nhạc

rích đoạn “đẹp nhất, hay nhất” trong Hoàn Châu cách cách 🙂 đám cưới của Hạ Tử Vy và Tiểu Yến Tứ, xem đi xem lại hàng trăm lần ko biết chán! Chính là từ phút 1:20 đến phút 2:20, 1 điệu múa và 1 điệu nhạc cổ, các cô nương áo hồng, vũ đạo trên nền nhạc kèn & trống.

Tuy chưa truy ra đc nguồn gốc của nhạc & vũ này, cảm thấy có đôi phần đã “cải biên, hiện đại hoá”, nhưng có thể nhận định phần lớn là “nguyên bản”! Film truyền hình dĩ nhiên không thể “chất lượng” như film điện ảnh, nhưng thi thoảng vẫn nhặt ra được vài “viên ngọc” từ kho tàng văn hoá cổ!

“trần” thời minh nguyệt

text=秦时明月汉时关&font=1&size=18&color=0000FF
text=万里长征人未还&font=1&size=18&color=0000FF

ình chụp trong một quán cafe cũ kỹ, gần như là đồng nát, thị trấn Sao Đỏ, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, 2017, một đêm không gian u ám, tối tăm: “Trần” thời minh nguyệt “Lý” thời quan, Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn… Vẫn (còn đây) là vầng trăng sáng đời Trần, vẫn còn đây là miền quan ải thời Lý, mà người chinh nhân vạn dặm đi vẫn chưa thấy về…

bộ bộ kinh tâm

ữa xem 1 trích đoạn “Bộ bộ kinh tâm” – thường ko thích ngôn tình, kiếm hiệp, những thi thoảng vẫn xem để “học chữ”. 2 chị em Nhược Lan, Nhược Hy nhận được thư nhà, ngồi chờ 1 viên thái giám đến đọc thư giúp. Xem đến đây lấy làm lạ, vì phụ nữ quý tộc xưa, tuy ko “thông kim bác cổ” như các trang nam nhi “luận bàn chính sự”, nhưng học vấn cũng ko phải là tầm thường, đều có ít nhất mười mấy năm học chữ. Cổ văn, Đường thi, Tống từ… thảy đều thông thạo, làm sao có chuyện ko đọc được thư nhà!?

Mở thư ra mới biết chữ viết lối bán thảo, học 10 năm cũng chưa chắc đã đọc được (tôi cũng ko đọc được, vậy mà biết có người ở làng Đường Lâm, Hà Nội, mới học 3 năm đã đọc / viết thảo thư thông thạo). Như nhân vật chính Nhược Hy trong phim tự nói về bản thân: ta ở thời hiện đại dù sao cũng có 16 năm đèn sách, chữ nghĩa, thế mà quay ngược về quá khứ, lại trở nên 1 người nửa mù chữ! Cái sự học ngày xưa cực kỳ khó khăn, học 10, 15 năm vẫn chưa biết gì, từng câu, từng chữ, thảy đều có ý nghĩa thâm sâu.

Ko như cái loại “quốc ngữ” ngày nay, ngu lắm chỉ 6 tháng là có thể đọc viết tương đối. Vì quá dể dàng như thế nên, thực ra, trên đường dài, hại nhiều hơn lợi! Đây là vấn đề rất lớn của tiếng Việt: ngôn từ cạn cợt, ngữ pháp lỏng lẻo, nội dung ít ỏi, công phu thô thiển, sinh ra nhiều thế hệ với những “lổ hổng tư duy”. Từ những năm 20 tuổi, bằng các phương pháp ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics), đem cách suy nghĩ, hành văn trong tiếng Anh, Pháp, Hoa… đối chiếu vào tiếng Việt, tôi có thể phát hiện rất nhiều “lổ hổng tư duy” trong bất kỳ ai nói chuyện với mình.

Những lỗi tư duy đó khiến cho người Việt rất dể bị xúi dục, lừa gạt. Đáng tiếc là lỗi có tính chất tự nhiên, cố hữu nên phần lớn ko thể tự nhận ra. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến một thực trạng XH Việt như ngày hôm nay, ko thể tự phản tỉnh để biết mình thiếu chỗ nào. Chưa kể đến vô vàn những thể loại “tỉnh để chi oa”, cũng ko thể trách, vì đã ngồi đáy giếng, ko muốn xem trời bằng vung cũng ko được! Sâu xa hơn, ngôn ngữ ko phải chỉ là cái vỏ của tư duy, nó hàm chứa trong đó nhân sinh quan và thế giới quan của 1 con người, 1 dân tộc…

văn hoá

ăn bản, cách làm phim của Trung Hoa đại lục và Hồng Kông, Đài Loan rất khác nhau. Với Đài Loan, HK, diễn viên thường được chọn từ các cuộc thi sắc đẹp, dĩ nhiên là có ngoại hình. Còn ở Đại lục, đa số diễn viên, nhất là các thế hệ đầu tiên, và đến tận bây giờ, thường được chọn ở các đoàn ca kịch: Kinh kịch, Bình kịch, Xuyên kịch, Tương kịch…

Các thể loại Kịch ở đại lục có bề dày lịch sử lâu đời, công phu học vấn đáng nể, diễn viên không chỉ học diễn xuất, mà còn học vũ đạo, võ thuật, nhiều trò tạp kỹ, và nhất là văn chương, thi ca cổ. Nên về ấn tượng ngoại hình, trang phục thì HK, Đài Loan có thể có chút ưu thế, nhưng về chiều sâu văn hoá, tâm lý, thì không thể qua mặt Đại lục.

Thế nên mới có chuyện “diễn vai nào là chết vai đó”, nhiều diễn viên cả đời chỉ đóng “chết” 1 vai: Hoàng hậu (độc ác), Hoàng thượng (lăng nhăng), Phi tần (hiền từ), Hoàng thái hậu (ba phải), Công chúa (nghịch ngợm), etc… Đó là mô thức truyền thống của Kịch nghệ, vốn đã chuyên sâu như thế, dù có tài năng đến đâu cũng khó lòng vượt qua.

Làm phim hiện đại căn bản là nhiều chiêu trò nhảm nhí để lôi kéo khán giả. Nhưng đại lục làm phim, luôn luôn lồng ghép trong đó rất nhiều vốn văn hoá cổ, muôn màu muôn vẻ, phải là người dụng tâm tinh tế mới nhận ra và thưởng thức được, đôi khi là những chi tiết rất nhỏ, ví dụ như nghệ thuật cắt giấy trang trí cổ truyền TQ trong hình dưới đây.

ban chỉ

text=扳指&font=1&size=18&color=0000FF

em phim kiếm hiệp, cổ trang thường thấy một loại nhẫn khá lớn, đeo ở ngón tay cái, thoạt tiên nghĩ đó là một loại trang sức, nhưng thấy có điểm không ổn, vì ngón tay cái làm rất nhiều việc, đeo chiếc nhẫn lớn như thế rất vướng víu. Suy nghĩ và “google” một lúc thì biết đó không phải đơn thuần là chiếc nhẫn, tiếng Trung gọi là: ban chỉ – 扳指.

Nguyên thuỷ là dụng cụ để kéo cung, bảo vệ ngón tay khi phải giương những chiếc cung to và nặng, nhất là khi phải bắn nhiều phát liên tục. Dần dà, với những nhà quyền quý, công cụ này trở thành một vật mang tính chất trang sức, biểu tượng, không còn tính thực dụng ban đầu, và được làm bằng những vật liệu quý như vàng, ngọc…

Lại nói chuyện cái ban chỉ – 班指. Đoạn này, Kỷ Hiểu Lam kiến nghị mắt đã khỏi bệnh, có thể phục chức làm quan, Càn Long chưa muốn KHL trở lại làm quan, làm bộ muốn kiểm tra mắt, đưa bàn tay ra hỏi có bao nhiêu ngón (指 – chỉ – ngón tay). Dĩ nhiên là câu đố mẹo này lừa được KHL vì Càn Long đếm có 6 ngón (chỉ), kể cả cái “ban chỉ”! 😬

thò lò

text=陀螺&font=1&size=18&color=0000FF

ông cụ hiện đại khiến cho ai cũng có thể trở thành “nhà ngôn ngữ học”, đôi khi cũng muốn tập làm một “cụ An Chi”, người phụ trách chuyên mục “Chuyện đông chuyện tây” trên bán nguyệt san “Kiến thức ngày nay” một thời đã khá xa xưa 😀. “Thò lò” – 陀螺, âm Hán Việt đọc là “đà loa”, “đà” tức là quán tính, “loa” là con ốc. Để rõ hơn, mở trang translate . google . com, nhập 陀螺 và bấm nút phát âm, nghe hầu như là giống âm Việt “thò lò”. Vậy đã rõ “thò lò” trong thành ngữ “quay tít thò lò” nghĩa làm sao (con quay, con vụ). Và cũng có thể đoán thêm, từ này du nhập VN mới sau này, nên âm đọc của nó gần với âm Bắc Kinh hiện đại hơn là âm Hán Việt cổ!

quy khứ lai — 5

Niệm niệm bất vong 

text=念念不忘&font=1&size=18&color=0000FF

text=爱与恨的边际&font=2&size=18&color=111111
text=聚与散的别离&font=2&size=18&color=111111
text=问你为何会在意&font=2&size=18&color=111111
text=直到现在还惦记&font=2&size=18&color=111111

text=归去你还在我依赖&font=2&size=18&color=111111
text=身分开心回来&font=2&size=18&color=111111
text=记得这份爱我们明白&font=2&size=18&color=111111
text=这就是爱&font=2&size=18&color=111111

text=每当感觉自己受了伤&font=2&size=18&color=111111
text=不辞而别逃去了远方&font=2&size=18&color=111111
text=躲多久走多远算疗伤&font=2&size=18&color=111111
text=不如回到相爱的地方&font=2&size=18&color=111111

text=没有告别静默的离场&font=2&size=18&color=111111
text=房间冰冷不再有暖阳&font=2&size=18&color=111111
text=多想留住你我的时光&font=2&size=18&color=111111
text=念念不忘等待爱回响&font=2&size=18&color=111111





hải mất rất lâu Thư Triệt mới chấp nhận được điều này, dù anh ta đã luôn phản đối phương cách hành động và làm ăn của cha mình từ rất sớm. Và cũng phải mất rất lâu nữa Thư Triệt mới vượt qua được ranh giới giữa yêu thương và thù hận để trở lại với Tiêu Thanh, cô gái mà anh thực sự yêu. Về phía gia đình Mậu Doanh, vốn chỉ đơn thuần kinh doanh, không có xu hướng chính trị, họ chấp nhận điều này dễ dàng hơn, và vì thế, tình bạn giữa Mậu Doanh và Tiêu Thanh nhanh chóng được nối lại. Sâu bên trong, tất cả đều hiểu rõ những nguy cơ tiềm ẩn trong cung cách làm ăn của xã hội Trung Quốc, và tất cả đều hướng đến những phương pháp minh bạch, thượng tôn pháp luật mà họ đã học được ở Mỹ.

Tình cảm giữa Ninh Minh và Mậu Doanh vốn dĩ là điều đến sau, không phải là cái mà người ta thường cho là “trời sinh hoàn hảo”. Mối quan hệ đó chứa đựng rất nhiều điểm khác biệt, rất nhiều điểm không thực sự “ăn ý”, căn bản xuất phát từ gốc gác, tầng lớp xã hội khác nhau của họ. Ninh Minh tôn thờ Mậu Doanh như một “công chúa”, nhưng anh ta không phải đã thực sự hiểu hết những điểm tế nhị trong tâm tư của cô gái này. Còn Mậu Doanh trời sinh đã là “quý tộc”, cô ấy có tầm nhìn và sự nhạy cảm của một người thuộc tầng lớp cao, cô ấy cảm động với sự kiên trì và tận hiến của Ninh Minh và do đó tiếp nhận tình cảm của anh ấy. Căn bản giữa hai người là tìm kiếm và chia xẻ với nhau những điều khác biệt.

Còn giữa Thư Triệt và Tiêu Thanh, mối quan hệ được phát triển theo một hướng khác, không phải tìm kiếm những điều khác biệt, mà ngược lại, chia xẻ những chí hướng, những giá trị chung. Căn bản Thư Triết quá cứng rắn với những nguyên tắc, giá trị sống của mình, khó lòng tìm được ai chấp nhận được sự cứng rắn quá độ đó. Chỉ có Tiêu Thanh cũng chia sẻ những giá trị đó, nên họ mới có thể cùng đi trên chặng đường đến với nhau. Những người xem phim sẽ nghĩ rằng cả hai câu chuyện tình yêu đó đều có một chút dáng dấp của câu chuyện Cô bé Lọ Lem – Cinderella, khi hai người thuộc hai tầng lớp xã hội rất xa nhau lại đến được với nhau, nhưng thực ra, kịch bản phim không hề nhấn mạnh về điều đó!

Cái tâm lý bất ổn thường trực thường thấy trong những xã hội Á Đông không phải là một yếu tố mang tính “tạm thời”, ngược lại, nó mang tính “di truyền”, con người ta phải chuẩn bị cho mình nhiều giá trị khác nhau, đề phòng những biến đổi khác nhau trong cuộc sống. Chính vì thế nên mới có chuyện trong một xã hội rất coi trọng hôn nhân “môn đăng hộ đối”, thì tình yêu thật sự chân thành lại phá vỡ, đi ngược lại hoàn toàn cái quy ước xã hội đó. Những con người từ các giai tầng xã hội rất khác nhau lại đến được với nhau, cơ bản cũng vì họ tìm thấy trong người kia những giá trị sống mà họ không có, điều đó được tính như một giải pháp dự phòng, khi những điều kiện chính trị, xã hội thay đổi hay đảo lộn!

Phim hay không phải chỉ vì nó phản ánh được khoảng cách lớn giữa các thế hệ già trẻ, sự khác biệt rất lớn giữa cung cách vận hành của các hệ thống xã hội, các hệ thống pháp lý, luân lý khác nhau. Phim còn rất hay ở chỗ miêu tả chi tiết những khó khăn của lớp người trẻ chật vật tìm lối đi riêng cho mình, những vấn đề rất hiện thực, sống động. Giới trẻ, đối diện tình yêu và vô vàn những mối quan hệ xã hội phức tạp khác, những trăn trở băn khoăn về giá trị của cá nhân và giá trị của cộng đồng, những suy tư, toan tính trong học hành và khởi nghiệp. Những so đo trong tình bạn, tình yêu, những mâu thuẫn, đấu tranh giữa nguyên tắc công bằng chung và lợi ích cá nhân riêng tư, tất cả đều được minh hoạ rất rõ.

Những bạn trẻ Trung Quốc, họ nhìn nhận thực tế và có rất nhiều suy nghĩ, băn khoăn với nó! Phim thừa nhận thẳng thắn rất nhiều vấn đề hiện hữu với hệ thống chính trị, pháp lý và kinh doanh của Trung Hoa lục địa. Và mặc dù văn hoá Mỹ bị “phê bình” khéo ở một số điểm, hệ thống luật pháp Mỹ được đề cao và thắng thế tuyệt đối! Phim đặt ra nhiều câu hỏi về giá trị của cá nhân trong cuộc sống, đâu là những “tố chất” mà chúng ta cần, đâu là những “phẩm hạnh” phải có để xây dựng tình yêu và lòng tin. Khác biệt nằm ở chỗ, các bạn trẻ Trung Quốc thẳng thắn đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời, chứ không chết chìm trong những vấn đề tủn mủn, lặt vặt, muôn thủa không thể tự giải quyết được như trong xã hội Việt!