chánh niệm

正念

ể tưởng nhớ bậc thầy “chánh niệm”, chi Từ Hiếu, nhánh Liễu Quán, phái Lâm Tế, Thiền tông, Đại thừa… người vừa rời cõi tạm! Giờ ai cũng nhắc như vẹt “chánh niệm” các kiểu, cái “chánh” áp cuối trong “Bát chánh đạo”.

Chữ “niệm” này, chiết tự ra thì trên là chữ “kim” – 今 – hiện tại, lúc này, dưới là chữ “tâm” – 心 – tâm hồn, tâm trí. Nên “niệm” có phải chính là cái tâm của bản thân… ngay tại đây, ngay lúc này không!? Nói thì dễ, nhưng làm siêu khó… 😢

thiên kinh vạn quyển

ư tưởng Phật giáo tóm tắt qua những con số, khởi đầu trực tiếp từ số 2 (không tính từ 1, từ 1 lên 2 bỏ qua, không trả lời những thứ siêu hình, những phạm trù “bất khả tư nghì”, không thể hiểu được với người-trần mắt-thịt). Kinh Phật chứa đầy những danh sách và con số, nhưng chúng thường mang ý nghĩa tập hợp và biểu tượng, ví dụ như 8 vạn 4 ngàn (84.000) là biểu trưng cho 1 đại lượng rất lớn (kiểu như MAX_INT), vì đương thời chưa có khái niệm, ký hiệu “inf – vô tận”. Một vài con số cơ bản: 2. Nhân quả và duyên khởi, 3. Tam pháp ấn, 4. Tứ diệu đế, 5. Ngũ uẩn, 6. Lục căn, 7. Thất tình, 8. Bát chính đạo, etc…

Đi sâu vào là cả 1 hệ thống “ma trận” chằng chịt các khái niệm phức tạp về tâm lý và nhận thức! Người mới đọc Phật thường choáng vì không biết bắt đầu từ đâu, vì sách vở Phật giáo đúng nghĩa là “thiên kinh vạn quyển”, hiểu theo đúng nghĩa đen ấy, số lượng kinh văn hiện còn lại qua những biến động lịch sử là trên 1 ngàn (!!!), kinh ngắn thì vài chục dòng, kinh dài thì… vài chục ngàn dòng. Không ở đâu, không một tôn giáo nào khác có khối lượng văn bản đồ sộ đến như vậy, chỉ nói loanh quanh về 1 chữ “tâm”. Nên nói Phật giáo không phải là tôn giáo, mà là “cognitive science – khoa học nhận thức” là như thế!

tathāgata

athāgata… trong các kinh Phật, thường thấy xuất hiện chữ Tathāgata – 如來 – Như Lai, chữ này là đại từ nhân xưng tự thân, do đức Phật tự gọi mình, chứ không phải do người khác gọi! Hiểu như thế đọc kinh văn sẽ thấy dễ hiểu hơn. Tatha: do đó, như thế, và gata: đã vượt qua… Có một chút nhập nhằng ở chỗ này, vì “Tathāgata” (tatha + gata) cũng có thể được chiết tự thành “tatha” và “agata”, mà “agata” là phản nghĩa của “gata”, tức là đến, chứ không phải là đi, Hoa văn hiểu như thế nên dịch thành “lai” (Như Lai) Có nhiều cách hiểu: đã đến hay đã đi, hay đã vượt qua, là vượt qua cái gì? Thật ra ngôn ngữ Phật giáo chỉ trở nên trừu tượng và đầy tính lý luận trong các kinh điển về sau!

Đương thời, Phật dùng từ một cách bình dân, có tính vừa gợi mở, vừa thực tế, tránh các câu hỏi siêu hình hay lý luận hình thức! Một tên hiệu thường gặp nữa của Phật là “Sugata”, ở đây ta bắt gặp cái động từ mà đức Phật rất “thích” dùng: “gate – tiếng Anh: to go”, đi, vượt qua, tiếng Hoa thường dịch “Sugata” thành “Thiện thệ – 善逝” hay “Hảo khứ – 好去”, dịch khá hay, nhưng “lai” hay “khứ” đều không thể hiện chính xác lắm, nên có một chút hàm ý chủ động trong đó! Tathāgata theo tôi, nên hiểu là: người đã vượt qua đến bờ bên kia (của bể khổ)! Về chữ “khổ” – Duḥkha, nó không mang nghĩa “khổ đau, bất hạnh” như chúng ta thường nghĩ, sẽ đề cập đến trong 1 post khác!

tự tính

ạn có thể đem khỉ ra khỏi rừng, nhưng không thể đem rừng ra khỏi khỉ! Với khỉ, rừng là bản năng, là lẽ sống, hiểu tương đối là 1 dạng “tự tính – 自性 – svabhāva”! Đốn đến cái cây cuối cùng sẽ nhận ra, hoá ra chúng ta vẫn là những con khỉ nhớ rừng, cần có rừng! Chính cái ngộ nhận cao cấp hơn nên dẫn đến kiểu suy nghĩ lầm lạc đó! Chừng nào mà cái ham muốn “hơn người bất chấp” còn lớn hơn cái ham muốn “thay đổi bản thân”, thì mọi lý luận vẫn chỉ là nguỵ biện, con người vẫn chỉ là những kẻ phá hoại!

shakya

ề cái mà tôi hay gọi là “sự diễn dịch, phân tích lịch sử theo chiều ngược”, một “lỗi tư duy” phổ biến của 99% con người, tìm cách mô tả lại sự việc từ vị trí mình đang đứng, hay thậm chí, rất thường khi, diễn dịch lại quá khứ theo cách có thể đáp ứng (có lợi cho) các nhu cầu của cuộc sống hiện tại! Đó là một lỗi tư duy phổ biến, cố hữu, và hết sức nguy hiểm! Về đức Thích-ca Mâu-ni, thường được xem là 1 “hoàng-tử” của dòng họ, “vương-quốc” Thích-ca (Shakya). Nhiều ý kiến cho rằng Shakya chính là Scythia, 1 nhánh người Aryan cổ! Theo các nghiên cứu hiện đại, thể chế chính trị của Shakya là Cộng-hoà (Republic) và nghị-viện, chứ không phải là Phong-kiến quân-chủ.

Cũng như nhiều quốc gia khác đương thời, hình thức chính quyền là Cộng-hoà, y hệt như La Mã trước thời Caesar, từ sau Caesar mới là đế chế, Caesar là Hoàng-đế đầu tiên! Trong tiếng Sanskrit, chữ Raja (Royal) chỉ người đứng đầu, người cầm quyền, chứ không mang nghĩa Hoàng-gia như sau này! Thực tế, thể chế phong kiến đầu tiên ở Ấn Độ cổ chỉ bắt đầu với Maurya, Bindusara và Ashoka, những Hoàng-đế mãi hơn 300 năm sau thời của đức Phật. Chính vì không có kiến thức về các thể chế Cộng-hoà thời cổ đại nên các sử gia (phong kiến) đời sau lần ngược trở lại, giải thích lịch sử “từ vị trí mình đang đứng”: Shakya trở thành 1 vương-quốc và đức Phật trở thành 1 hoàng-tử!

pali

ề Pali, và các ngôn ngữ khác của kinh Phật như: Sanskrit, chữ Phạn, etc… Sinh thời, đức Phật thuyết giảng bằng tiếng Prakrit, người anh em “bình dân” của Sanskrit. Vốn gốc đều là chung một ngôn ngữ, nhưng Prakrit là phần dễ hơn, bình dân hơn, phổ biến rộng rãi trong đại chúng, trong khi Sanskrit được ngữ pháp hoá chặt chẽ bằng các quy luật và trở thành ngôn ngữ chính xác của “tầng lớp trên”. Tuy vậy nhiều nghiên cứu cho rằng 2 nhánh ngôn ngữ này thông hiểu được với nhau chứ chưa đến mức trở thành các ngôn ngữ riêng biệt như sau này! Đã có lúc, có đệ tử đề nghị đức Phật truyền dạy giáo pháp bằng Sanskrit, nhưng đức Phật kiên quyết phản bác, đơn giản ông ấy muốn nói bằng thứ ngôn ngữ bình dân mà đại chúng có thể nghe và hiểu được! Càng về sau, Sanskrit càng trở nên chuẩn hoá, hàn lâm hoá, được dùng trong các nghi lễ tôn giáo Hinduism, Jainism, và Phật giáo!

Những lời dạy của đức Phật vốn được thể hiện bằng ngôn ngữ Prakrit! Vậy còn Pali là cái gì!? Cái tên Pali nhằm mô tả loại ngôn ngữ được sử dụng trong các kinh văn Theravada – Phật giáo nguyên thuỷ, nhưng cái tên đó chưa từng bao giờ được lịch sử ghi nhận! Người ta biết đến Pali, gọi bằng tên Pali thực chất chỉ qua các kinh văn của Theravada. Pali với Sanskrit có một mối liên hệ tương đối gần, tập từ vựng gần như tương đương, nhưng ngữ pháp Pali đơn giản hơn! Hiểu nôm na, Pali chính là một cái “hoá thạch”! Hoá thạch của một sinh vật cổ thực ra là cục đá mang hình dạng con sinh vật đó, chứ bản thân cục đá đó không phải là sinh vật! Tương tự như vậy, Pali chính là Prakrit thời kỳ đức Phật hoằng pháp, nhưng trong khi Prakrit tiếp tục phát triển, trở thành nhiều ngôn ngữ khác (sinh ngữ), còn Pali dừng lại, bất động với thời gian (tử ngữ), trở thành một ngôn ngữ kinh viện để lưu truyền hậu thế!

ananda

ề A-nan, người thị giả của đức Phật… khi Phật đã bắt đầu có tuổi, người muốn chọn 1 người hầu cận gần gũi phục vụ cho các công việc hàng ngày, lo ăn uống, sinh hoạt, lo tổ chức và truyền đạt các chỉ dạy cho Tăng-đoàn. Ca Diếp (và nhiều người khác) là các đại đệ tử của đức Phật, về học vấn đứng vào hàng đầu, nhưng lúc đó cũng đã có tuổi, người được chọn là A-nan vì nhiều lý do khác nhau. A-nan là em họ của đức Phật, bố của A-nan là anh em với bố của đức Phật, về quan hệ họ hàng là gần gũi. Kế đến nữa là A-nan còn trẻ, nhanh nhẹn phù hợp với công việc. A-nan với đức Phật 1 lòng tôn sùng, thành kính, chu đáo, và đặc biệt A-nan nổi tiếng với khả năng ghi nhớ siêu phàm, hàng vạn lời đức Phật nói ra, nói lúc nào, ở đâu, nói như thế nào, A-nan có thể lặp lại không sai sót.

Đại hội Kết-tập lần thứ nhất sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử họp lại để “chuẩn hoá” những lời dạy, hội nghị này do Ca Diếp tổ chức! Hội nghị phụ thuộc rất nhiều vào A-nan, vì cái trí nhớ siêu phàm của ông ấy! Các kinh điển Phật giáo thường bắt đầu bằng câu: Evaṃ mayā śrūtaṃ, 如是我聞, Như thị ngã văn, Tôi nghe như vầy…, được cho là lời thuật của A-nan, A-nan thuật lại từng lời một, nếu tất cả 500 vị A-la-hán của Tăng-đoàn đều đồng ý thì lời đó trở thành kinh văn chính thức! Nhưng có 1 điều, A-nan là người duy nhất, trong số 500 thành viên hội đồng chưa… đắc quả A-la-hán! Chính bởi cái trí nhớ siêu phàm, cái gì cũng nhớ đó nên A-nan chưa thể đắc pháp, ít nhất là cho đến sau khi đức Phật khứ thế, những người khác, vì ít vướng bận vào ngôn ngữ, nên lại dễ thành công hơn!

thầy bói xem voi

It was six men of Indostan,

To learning much inclined,

Who went to see the Elephant
,
Though all of them were blind…

ó 6 con voi mù, đều chưa từng biết con người như thế nào, nên 1 ngày nọ, chúng quyết tìm thử 1 con người xem hắn ta ra làm sao! Con voi đầu tiên đưa chân ra, mới “sờ” có 1 cái mà thằng người đã bẹp dí rồi, nên nó kết luận: con người phẳng lỳ à! 5 con voi còn lại đều đến “sờ” thử xem sao và đều kết luận tương tự. 😃

Câu chuyện ngược của “Thầy bói xem voi” này thực ra mang một ý nghĩa hơi khác chuyện ban đầu! Có rất nhiều biến thể khác nhau của truyện thầy bói xem voi trên thế giới, rất nhiều phiên bản, nhưng tất cả đều quay về câu chuyện gốc trong kinh Udana, 1 kinh Phật giáo tiếng Pali có niên đại rất sớm, hơn 2500 năm trước!

Bát nhã tâm kinh

át-nhã tâm kinh – 般若心经 – Prajnaparamita hrdaya – Heart sutra… Xin nói rõ ràng một điều là em hoàn toàn không hiểu gì về nội dung kinh này nhé, chỉ nói về cái chất lượng âm nhạc như thôi miên của nó thôi! Nhất là đoạn: Gate, gate, pāragate, pārasaṃgate – Qua rồi, qua rồi, đã qua bờ bên kia, đã đi hoàn toàn qua bờ bên kia rồi…

Cứ mỗi lần chèo vượt biển những đoạn dài 20, 25 km là vừa chèo đi, vừa “niệm chú” như thế: Gate, gate, pāragate, pārasaṃgate… em ngu nên chỉ hiểu theo nghĩa đen thế thôi! 🙂 Nói thêm chút về ngữ nghĩa, có 2 cách hiểu câu này, 1 cách chủ động và 1 cách bị động, không diễn tả được trong tiếng Việt, hiểu thế nào là tuỳ vào chủ thể!

Aaryaavalokiteshvara – bodhisattvo gambhiiraayaam prajnaapaaramitaayaam caryaam caramaano vyavalokayati sma: panca skandhaah; taamshca svabhaava – shuunyaan pashyati sma.

Iha Shaariputra ruupam shuunyataa shuunyataiva ruupam, ruupaan na prithak shuunyataa, shuunyataayaa na prithag ruupam, yad ruupam saa shuunyataa, yaa shuunyataa tad ruupam. Evem eva vedanaa – samjnaa – samskaara – vijnaanaani. Iha Shaariputra sarva – dharmaah shuunyataa – lakshanaa, anutpannaa, aniruddhaa, amalaa, na vimalaa, nonaa, na paripuurnaah. Tasmaac Chaariputra shuunyaayaam na ruupam na vedanaa na samjnaa na samskaaraa na vijnaanaani. Na cakshuh – shrotra – ghraana – jihvaa – kaaya – manaamsi. Na ruupa – shabda – gandha – rasa – sprashtavya – dharmaah. Na cakshurdhaatur yaavan na mano – vijnaana – dhaatuh.

Na vidyaa, naavidyaa, na vidyaa – kshayo, naavidyaa – kshayo, yaavan na jaraa – maranam na jaraamarana – kshayo, na duhkha – samudaya – nirodha – maargaa, na jnaanam, na praaptir apraaptitvena. Bodhisattvasya prajnaapaaramitaam aashritya viharaty acittaavaranah. Cittaavarana – naastitvaad atrasto, viparyaasaatikraanto nishtha – nirvaanah. Tryadhva – vyavasthitaah sarvabuddhaah prajnaapaaramitaam aashrityaanuttaraam samyaksambodhim abhisambuddhaah. Tasmaaj jnaatavyo prajnaapaaramitaa – mahaamantro mahaavidyaa – mantro ‘nuttara – mantro ‘samasama – mantrah, sarvadukha – prashamanah, satyam amithyatvaat, prajnaapaaramitaayaam ukto mantrah. Tad yathaa gate gate paaragate paarasamgate bodhi svaaha!

 

Avalokiteshvara while practicing deeply with the Insight that Brings Us to the Other Shore, suddenly discovered that all of the five Skandhas are equally empty, and with this realisation he overcame all Ill-being.

“Listen Sariputra, this Body itself is Emptiness and Emptiness itself is this Body. This Body is not other than Emptiness and Emptiness is not other than this Body. The same is true of Feelings, Perceptions, Mental Formations, and Consciousness. “Listen Sariputra, all phenomena bear the mark of Emptiness; their true nature is the nature of no Birth no Death, no Being no Non-being, no Defilement no Purity, no Increasing no Decreasing. “That is why in Emptiness, Body, Feelings, Perceptions, Mental Formations and Consciousness are not separate self entities. The Eighteen Realms of Phenomena which are the six Sense Organs, the six Sense Objects, and the six Consciousnesses are also not separate self entities. The Twelve Links of Interdependent Arising and their Extinction are also not separate self entities. Ill-being, the Causes of Ill-being, the End of Ill-being, the Path, insight and attainment, are also not separate self entities. Whoever can see this no longer needs anything to attain.

Bodhisattvas who practice the Insight that Brings Us to the Other Shore see no more obstacles in their mind, and because there are no more obstacles in their mind, they can overcome all fear, destroy all wrong perceptions and realize Perfect Nirvana. “All Buddhas in the past, present and future by practicing the Insight that Brings Us to the Other Shore are all capable of attaining Authentic and Perfect Enlightenment. “Therefore Sariputra, it should be known that the Insight that Brings Us to the Other Shore is a Great Mantra, the most illuminating mantra, the highest mantra, a mantra beyond compare, the True Wisdom that has the power to put an end to all kinds of suffering. Therefore let us proclaim a mantra to praise the Insight that Brings Us to the Other Shore: Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha!

pháp diệt tận kinh

法滅盡經

háp diệt tận kinh – 法灭尽经, hay còn gọi là “Phật thuyết Pháp diệt tận kinh”, là một kinh văn lưu hành rất sớm, phổ biến trong cả 2 phái Nam, Bắc tông, được dịch sang Hán-ngữ từ nguyên bản tiếng Sanskrit và trở thành thành văn bản chính thức trong bộ Đại-tạng-kinh – Tripiṭaka. Trong kinh này, đức Phật đưa ra các lời tiên đoán về thời kỳ suy tàn rồi diệt vong của Phật-giáo sau khi Ngài nhập Niết-bàn! Dưới đây trích lại một vài đoạn trong nguyên bản, có sửa lại hành văn cho dễ hiểu hơn:

Tôi nghe như vầy: một lần, đức Phật ở thành Câu-thi-na. Như-Lai sẽ nhập Niết-bàn trong 3 tháng nữa, nên các tì-kheo cùng nhiều giáo chúng kéo đến, cung kính đảnh lễ. Thế-tôn tĩnh lặng, không nói một lời và ánh hào quang cũng không xuất hiện. Ngài A-nan cung kính đảnh lễ và hỏi: bạch Thế-tôn, từ trước đến nay khi Thế-tôn thuyết pháp, ánh sáng uy nghiêm đều xuất hiện, nhưng hôm nay không thấy nữa, chắc hẳn có nhân duyên gì, chúng con mong muốn nghe đức Thế-tôn giảng giải.

Đức Phật vẫn im lặng không trả lời, A-nan thỉnh cầu đến 3 lần, lúc đó đức Phật mới bảo: sau khi Như-Lai nhập Niết-bàn, giáo pháp sẽ bắt đầu suy yếu, ma đạo dần thịnh hành, đội lốt tăng nhân, xuyên tạc phá hoại giáo pháp. Chúng mặc y phục đẹp đẽ, uống rượu, ăn thịt, giết hại sinh vật, không có lòng từ bi, thường mang sân hận, đố kỵ lẫn nhau. Trong Tăng-đoàn, giữa tháng, cuối tháng tuy có tụng kinh, nhưng cũng chỉ là hình thức. Chẳng bao lâu, việc tụng tập kinh điển cũng sẽ chấm dứt.

Khi chính pháp sắp mất, phụ nữ sẽ trở nên tinh tấn và thường làm việc công đức. Đàn ông sẽ trở nên lười biếng, không còn ai coi trọng giáo pháp nữa. Khi chính pháp sắp tàn, chư-thiên khóc lóc, sông ngòi khô cạn và các loại ngũ cốc không chín, kéo theo đó là nạn đói. Bệnh dịch thường xuyên xảy ra, cướp đi vô số mạng người. Dân chúng làm việc cực khổ, quan chức mưu tính lợi riêng, không thuận theo đạo lý. Người ác nhiều như cát biển, người thiện rất ít, hầu như chỉ có được một vài người.

Khi kiếp sắp hết, vòng quay của mặt trời và mặt trăng trở nên ngắn hơn và mạng sống của con người giảm lại. Bốn mươi tuổi đầu đã bạc trắng. Đàn ông dâm dục, cạn kiệt tinh lực nên thường chết trẻ, thường là trước 60 tuổi. Mạng sống của nam giới giảm, mà mạng sống cuả nữ giới tăng đến 70, 80, 90 hoặc hơn. Nước lớn sẽ bất ngờ dâng cao, chúng sinh các loại, chìm đắm nơi biển cả, làm mồi cho tôm cá, nhưng con người vẫn không mảy may quan tâm đến! Người các chủng tộc lai tạp lẫn nhau.

Tuy nhiên trong 52 năm, các bộ kinh như Thủ-lăng-nghiêm, kinh Bát-chu Tam-muội, dần dần bị sửa đổi, mười hai bộ kinh sẽ dần bị huỹ diệt hoàn toàn và không bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Văn tự kinh điển sau đó hoàn toàn biến mất, không còn được biết đến, giới y của sa-môn sẽ biến thành màu trắng. Khi giáo pháp của ta sắp mất, cũng giống như ngọn đèn dầu tỏa sáng lên trong chốc lát trước khi tàn lụi, chính-pháp cũng bừng sáng rồi suy tàn. Từ đó về sau khó nói chắc được điều gì.

Thời kỳ Mạt-Pháp này sẽ kéo dài suốt hàng chục triệu năm, cho đến khi Di-lặc, vị Phật tương lai, sẽ thị hiện ở thế gian để thành vị Phật tiếp theo. Các nơi đều được an vui, khí độc tiêu tan, mưa gió thuận hoà, các loại ngũ cốc tươi tốt, cây cối sum suê cao lớn, và con người sẽ cao đến tám trượng, tuổi thọ lên đến đến 8 vạn 4 ngàn năm, chúng sanh độ được Chính-pháp nhiều đến mức khó có thể đếm hết… Này A-nan, kinh này gọi là Pháp Diệt Tận, hãy truyền bá rộng rãi cho mọi người được biết!