ngựa hồng

…Ví đem vào tập Đoạn trường,
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đã trở hài …

ể chuyện “viết văn cưa gái”, chuyện của hơn 20 năm trước, cái thời mạng TTVN online còn đang rất sôi động, thu hút một số đáng kể thanh thiếu niên, rất nhiều bạn bè tôi trên đó. Hồi đó vẫn hay lên TTVN, loay hoay một chút ở box cờ vây (weiqi), ít quan tâm những thứ khác. Chuyện là… có một cô bé tên Trà My, đến tận giờ vẫn chưa biết là ai, nghe đâu là xinh lắm, cô ấy ra một cái “đề văn”, luận về “Bạch Mã hoàng tử”, hoàng tử cưỡi ngựa đen, ngựa trắng gì gì đó, một đề tài rất “teen”, rất “trẻ trâu” nhé!

Tổ chức như kiểu một cuộc thi văn tài “kén rể”, ai đạt giải nhất sẽ được nàng tặng quà và tặng cả một nụ hôn. Thế có chết mấy ông bạn của tôi không, ông nào cũng xôm xôm nhảy vào, cố viết linh tinh lấy lòng “người đẹp”, nhưng văn tài thì hữu hạn, mãi mà vẫn không thông, bí quá phải chạy qua nhờ thằng này. Thằng này không biết Trà My, Trà Mỹ thế nào, chỉ nghe kể qua câu chuyện, ngoáy bút một phát! Hôm trước gởi bài, hôm sau chiếm ngay giải nhất! Tiếc là nụ hôn đến bây giờ vẫn chưa được nhận! 🙂

bạo hành gia đình

ương nhiên, sự việc mới dừng lại ở mức tạm gọi là “chấp cổ, nệ cổ” mà thôi, nhưng có thể nhiều người ở đây không biết, ở nhiều làng quê, nhiều gia đình, đi ra đi vào, đóng cái cửa, bật tắt cái bóng đèn, bày biện lư hương, hoa quả trên bàn thờ, những việc lặt vặt như vậy cũng trở thành cái cớ để chì chiết, mạt sát nhau, tình trạng căng thẳng kéo dài hàng chục năm. Rồi các đám hội, các ông già khăn đóng áo dài ngồi cãi nhau: anh học ở đâu cái “lễ” đó, phải làm như tôi nè, như tôi mới là đúng nè…

Chuyện như thế phải gọi chính xác bằng cái tên “bạo hành gia đình”, dai dẳng đến mức trở thành “tâm thần”, chả ai sống được! Có vô số hình thức, có thể công khai, rõ ràng, cũng có thể là nhiều kiểu kín đáo, xảo trá khác, dù thế nào thì cũng chỉ là những “cái tôi” bé như hạt cát chuyên dở trò lưu manh vặt! Nếu thực sự là vì tinh thần Trần Hưng Đạo thì nghiên cứu tư liệu, điền dã khảo cổ tìm lại văn bản “Binh thư yếu lược” (đã thất truyền) đi, ví dụ như thế, đừng cãi chuyện cái lư hương mãi! 😢

whataboutism

ư duy hình thức: những ai đọc blog của tôi sẽ thấy tôi dùng chữ “tư duy, ngôn từ hình thức” rất nhiều lần! Đó là sự lầm lạc trong suy nghĩ vốn chỉ dựa trên hình thức nhị nguyên trắng đen, càng phụ thuộc vào hình thức càng xa rời sự thật! Những người phụ thuộc vào tư duy hình thức thường đơn giản, phiến diện, hay đôi khi chả có suy nghĩ gì sâu xa cho nên ai nói gì cũng nghe! Một ví dụ gần đây là chữ “whataboutism”. “Whataboutism” đơn giản là 1 sự so sánh, liên tưởng, vội vàng chụp mũ nó là “nguỵ biện” e rằng không được đúng! Mọi so sánh, liên tưởng luôn luôn chứa đựng một đạo lý đằng sau nó, đương nhiên so sánh chính xác tới mức nào vẫn còn tuỳ vào tình huống! Ngược lại, bác bỏ “whataboutism” mới chính là nguỵ biện! 1 đằng khẳng định phải có 1 nguyên tắc phổ quát đứng sau mọi việc, 1 đằng phủ nhận điều này, 1 kiếu trá hình cho “tiêu chuẩn kép – double standard”, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, không cần lý do! Chỉ những môi trường văn hoá kém mới liên tục phải vướng vào kiểu tư duy hình thức này, nó thể hiện 1 điều: con người bị vướng vào cái tôi nhỏ nhoi, lúc nào cũng có ý: tôi đúng, anh sai, tôi là 1 cái gì đó, liên tục cần có lý luận trắng đen để bám víu vào!

Nhìn qua xứ bạn, thấy được những điều khác hẳn! Cứ đọc đề thi văn Cao khảo của Trung Quốc những năm gần đây là thấy, học sinh trung học của họ đã ở 1 trình độ khá cao, đã biết vượt qua các kiểu tư duy hình thức mà nhìn mọi việc một cách toàn diện hơn! Thú thật là tôi rất thích đọc đề thi ngữ văn TQ, cao hơn hẳn 1 bậc so với VN, ví dụ như đề văn Thiên Tân: Tưởng tượng một ngày bộ óc con người được cấy một siêu chip thông minh, giúp cho ngay cả một bà lão cũng có thể am tường mọi vấn đề, lĩnh vực trong cuộc sống. Không ai còn cần phải học tập. Hãy bày tỏ suy nghĩ của bạn. Đề văn Thượng Hải: Phán xét cuộc sống người khác không còn là một hiện tượng xa lạ. Hiện tượng này ảnh hưởng nhất định đến mỗi cá nhân và toàn xã hội. Viết bài văn trình bày suy nghĩ của bạn về hiện tượng trên. Đề văn Chiết Giang: cuộc sống cần nghỉ ngơi, cuộc sống không ngơi nghỉ. Em có suy nghĩ gì về vấn đề này? Hãy viết bài viết không dưới 800 chữ với chủ đề này. Đề văn Bắc Kinh: bàn về sự bền vững của nền văn minh, thí sinh cần phân tích sự bền vững trong nền văn minh Trung Quốc đã giúp nhân dân vượt qua thời kỳ gian khó và xây dựng lại đất nước như thế nào.

Trong lĩnh vực phim ảnh cũng vậy! Phim thanh xuân Trung Quốc thường đặt rất nặng tính giáo dục, không chỉ xây dựng tính cách, đưa ra ví dụ điển hình, phim TQ rất quan tâm đến việc phổ cập, giảng giải các vấn đề tâm lý xã hội: những chuyện thường gặp của các lứa tuổi, các cách vấp ngã và trưởng thành, các kiểu hiểu lầm phổ biến thường xảy ra giữa con người với nhau, các mẫu tâm lý bất thường, bệnh hoạn thường gặp, các vấn nạn xã hội như đa cấp, lừa đảo, các mánh khoé thị phi xảo trá của mạng xã hội cũng được phân tích kỹ! Nếu đã đạt đến 1 trình độ cỡ các đề thi cao khảo thì hầu như sẽ không còn vướng vào các “lý luận hình thức” trắng đen nữa! Kinh nghiệm của riêng tôi về những người “lú luận hình thức” là… họ không có khả năng phân biệt âm nhạc hay và dở, vì mãi tìm kiếm lý lẽ, ngôn từ khả dĩ có thể chứng minh “tôi đúng”, vì chỉ “nói” mà không “nghe”, vì không thể để tâm mà lắng nghe cho nó thấu đáo, để cảm nhận nó hay dở, thô mộc tinh tế như thế nào, suốt ngày lên mạng tìm đọc tài liệu, xem cái gì khả dĩ có thể có lợi về lý luận ngôn từ, mà không biết cách “phản tỉnh”, nhìn vào cái tâm của chính mình cho nó rốt ráo!

chánh niệm

正念

ể tưởng nhớ bậc thầy “chánh niệm”, chi Từ Hiếu, nhánh Liễu Quán, phái Lâm Tế, Thiền tông, Đại thừa… người vừa rời cõi tạm! Giờ ai cũng nhắc như vẹt “chánh niệm” các kiểu, cái “chánh” áp cuối trong “Bát chánh đạo”.

Chữ “niệm” này, chiết tự ra thì trên là chữ “kim” – 今 – hiện tại, lúc này, dưới là chữ “tâm” – 心 – tâm hồn, tâm trí. Nên “niệm” có phải chính là cái tâm của bản thân… ngay tại đây, ngay lúc này không!? Nói thì dễ, nhưng làm siêu khó… 😢

thiên kinh vạn quyển

ư tưởng Phật giáo tóm tắt qua những con số, khởi đầu trực tiếp từ số 2 (không tính từ 1, từ 1 lên 2 bỏ qua, không trả lời những thứ siêu hình, những phạm trù “bất khả tư nghì”, không thể hiểu được với người-trần mắt-thịt). Kinh Phật chứa đầy những danh sách và con số, nhưng chúng thường mang ý nghĩa tập hợp và biểu tượng, ví dụ như 8 vạn 4 ngàn (84.000) là biểu trưng cho 1 đại lượng rất lớn (kiểu như MAX_INT), vì đương thời chưa có khái niệm, ký hiệu “inf – vô tận”. Một vài con số cơ bản: 2. Nhân quả và duyên khởi, 3. Tam pháp ấn, 4. Tứ diệu đế, 5. Ngũ uẩn, 6. Lục căn, 7. Thất tình, 8. Bát chính đạo, etc…

Đi sâu vào là cả 1 hệ thống “ma trận” chằng chịt các khái niệm phức tạp về tâm lý và nhận thức! Người mới đọc Phật thường choáng vì không biết bắt đầu từ đâu, vì sách vở Phật giáo đúng nghĩa là “thiên kinh vạn quyển”, hiểu theo đúng nghĩa đen ấy, số lượng kinh văn hiện còn lại qua những biến động lịch sử là trên 1 ngàn (!!!), kinh ngắn thì vài chục dòng, kinh dài thì… vài chục ngàn dòng. Không ở đâu, không một tôn giáo nào khác có khối lượng văn bản đồ sộ đến như vậy, chỉ nói loanh quanh về 1 chữ “tâm”. Nên nói Phật giáo không phải là tôn giáo, mà là “cognitive science – khoa học nhận thức” là như thế!

tathāgata

athāgata… trong các kinh Phật, thường thấy xuất hiện chữ Tathāgata – 如來 – Như Lai, chữ này là đại từ nhân xưng tự thân, do đức Phật tự gọi mình, chứ không phải do người khác gọi! Hiểu như thế đọc kinh văn sẽ thấy dễ hiểu hơn. Tatha: do đó, như thế, và gata: đã vượt qua… Có một chút nhập nhằng ở chỗ này, vì “Tathāgata” (tatha + gata) cũng có thể được chiết tự thành “tatha” và “agata”, mà “agata” là phản nghĩa của “gata”, tức là đến, chứ không phải là đi, Hoa văn hiểu như thế nên dịch thành “lai” (Như Lai) Có nhiều cách hiểu: đã đến hay đã đi, hay đã vượt qua, là vượt qua cái gì? Thật ra ngôn ngữ Phật giáo chỉ trở nên trừu tượng và đầy tính lý luận trong các kinh điển về sau!

Đương thời, Phật dùng từ một cách bình dân, có tính vừa gợi mở, vừa thực tế, tránh các câu hỏi siêu hình hay lý luận hình thức! Một tên hiệu thường gặp nữa của Phật là “Sugata”, ở đây ta bắt gặp cái động từ mà đức Phật rất “thích” dùng: “gate – tiếng Anh: to go”, đi, vượt qua, tiếng Hoa thường dịch “Sugata” thành “Thiện thệ – 善逝” hay “Hảo khứ – 好去”, dịch khá hay, nhưng “lai” hay “khứ” đều không thể hiện chính xác lắm, nên có một chút hàm ý chủ động trong đó! Tathāgata theo tôi, nên hiểu là: người đã vượt qua đến bờ bên kia (của bể khổ)! Về chữ “khổ” – Duḥkha, nó không mang nghĩa “khổ đau, bất hạnh” như chúng ta thường nghĩ, sẽ đề cập đến trong 1 post khác!

sound of silence

gủ một đêm thức dậy, nhận ra mọi thứ rồi cũng sẽ y như cũ, chả khác gì! Như cái thời VN chưa có gì, chưa có di động, chưa internet, về bản chất không ổn, nhưng ít ra nó không có phương tiện để nhân rộng. Đến khi có internet rồi, con đen dùng nó vào việc học tập thì ít, mà chat chit, gái gú thì nhiều! Tiếp theo đó thì mọi người biết rồi, các hội nhóm lưu manh, lừa bịp, bài bạc, cá độ, đĩ điếm cứ thay nhau mọc ra trên net như nấm sau mưa. Sau khi rửng mỡ chán chê, chúng nó sẽ bắt đầu bày trò xỉa xói nhau trên net, tôi là như thế này, anh là như thế kia, đủ trò đấu tố, ghen ghét, lưu manh lặt vặt. Và sau khi đã la liếm chán chê, chúng nó sẽ học cách tỏ ra trí thức, cũng nghe nhạc, cũng đọc sách (nói xin lỗi, ngó qua đọc sách gì, nghe nhạc gì là biết cũng chỉ như “con khỉ mặc áo”).

Tại sao lại như vậy!? Tại vì công nghệ phát triển mà con người thì không! Công nghệ tạo ra những cái tâm “vọng động”, cho họ cơ hội để trở thành “một người khác”, trong chốc lát trở thành bất kỳ điều gì mà họ muốn, cũng là một kiểu “ngáo”. Chứ thực sự, “cái tôi” bên trong không hề thay đổi, “cái tôi” chỉ được nuông chiều, chứ không được rèn luyện. Thiếu những giá trị dẫn đường, những mục tiêu hướng thượng, thiếu xây dựng và chia xẻ giá trị giữa người với người, thì có loay hoay cỡ nào, rồi cũng trở thành một kiểu “trò chơi con mực” mà thôi, không hơn! Ấy, mà nói “giá trị, tư tưởng”, đừng vội đem sách “triết” ra đọc nhé! Chuyện đơn giản chỉ là sự phát triển của mỗi cá nhân, là nhìn vào bên trong và tự vấn bản thân ấy, đừng vội ra ngoài mua sách, không có “tự vấn”, đọc làm màu vô ích!

Hello darkness, my old friend, I’ve come to talk with you again. Because a vision softly creeping, left its seeds while I was sleeping. And the vision that was planted in my brain still remains within the sound of silence… And the people bowed and prayed, to the neon god they made…

shakya

ề cái mà tôi hay gọi là “sự diễn dịch, phân tích lịch sử theo chiều ngược”, một “lỗi tư duy” phổ biến của 99% con người, tìm cách mô tả lại sự việc từ vị trí mình đang đứng, hay thậm chí, rất thường khi, diễn dịch lại quá khứ theo cách có thể đáp ứng (có lợi cho) các nhu cầu của cuộc sống hiện tại! Đó là một lỗi tư duy phổ biến, cố hữu, và hết sức nguy hiểm! Về đức Thích-ca Mâu-ni, thường được xem là 1 “hoàng-tử” của dòng họ, “vương-quốc” Thích-ca (Shakya). Nhiều ý kiến cho rằng Shakya chính là Scythia, 1 nhánh người Aryan cổ! Theo các nghiên cứu hiện đại, thể chế chính trị của Shakya là Cộng-hoà (Republic) và nghị-viện, chứ không phải là Phong-kiến quân-chủ.

Cũng như nhiều quốc gia khác đương thời, hình thức chính quyền là Cộng-hoà, y hệt như La Mã trước thời Caesar, từ sau Caesar mới là đế chế, Caesar là Hoàng-đế đầu tiên! Trong tiếng Sanskrit, chữ Raja (Royal) chỉ người đứng đầu, người cầm quyền, chứ không mang nghĩa Hoàng-gia như sau này! Thực tế, thể chế phong kiến đầu tiên ở Ấn Độ cổ chỉ bắt đầu với Maurya, Bindusara và Ashoka, những Hoàng-đế mãi hơn 300 năm sau thời của đức Phật. Chính vì không có kiến thức về các thể chế Cộng-hoà thời cổ đại nên các sử gia (phong kiến) đời sau lần ngược trở lại, giải thích lịch sử “từ vị trí mình đang đứng”: Shakya trở thành 1 vương-quốc và đức Phật trở thành 1 hoàng-tử!

pali

ề Pali, và các ngôn ngữ khác của kinh Phật như: Sanskrit, chữ Phạn, etc… Sinh thời, đức Phật thuyết giảng bằng tiếng Prakrit, người anh em “bình dân” của Sanskrit. Vốn gốc đều là chung một ngôn ngữ, nhưng Prakrit là phần dễ hơn, bình dân hơn, phổ biến rộng rãi trong đại chúng, trong khi Sanskrit được ngữ pháp hoá chặt chẽ bằng các quy luật và trở thành ngôn ngữ chính xác của “tầng lớp trên”. Tuy vậy nhiều nghiên cứu cho rằng 2 nhánh ngôn ngữ này thông hiểu được với nhau chứ chưa đến mức trở thành các ngôn ngữ riêng biệt như sau này! Đã có lúc, có đệ tử đề nghị đức Phật truyền dạy giáo pháp bằng Sanskrit, nhưng đức Phật kiên quyết phản bác, đơn giản ông ấy muốn nói bằng thứ ngôn ngữ bình dân mà đại chúng có thể nghe và hiểu được! Càng về sau, Sanskrit càng trở nên chuẩn hoá, hàn lâm hoá, được dùng trong các nghi lễ tôn giáo Hinduism, Jainism, và Phật giáo!

Những lời dạy của đức Phật vốn được thể hiện bằng ngôn ngữ Prakrit! Vậy còn Pali là cái gì!? Cái tên Pali nhằm mô tả loại ngôn ngữ được sử dụng trong các kinh văn Theravada – Phật giáo nguyên thuỷ, nhưng cái tên đó chưa từng bao giờ được lịch sử ghi nhận! Người ta biết đến Pali, gọi bằng tên Pali thực chất chỉ qua các kinh văn của Theravada. Pali với Sanskrit có một mối liên hệ tương đối gần, tập từ vựng gần như tương đương, nhưng ngữ pháp Pali đơn giản hơn! Hiểu nôm na, Pali chính là một cái “hoá thạch”! Hoá thạch của một sinh vật cổ thực ra là cục đá mang hình dạng con sinh vật đó, chứ bản thân cục đá đó không phải là sinh vật! Tương tự như vậy, Pali chính là Prakrit thời kỳ đức Phật hoằng pháp, nhưng trong khi Prakrit tiếp tục phát triển, trở thành nhiều ngôn ngữ khác (sinh ngữ), còn Pali dừng lại, bất động với thời gian (tử ngữ), trở thành một ngôn ngữ kinh viện để lưu truyền hậu thế!

ananda

ề A-nan, người thị giả của đức Phật… khi Phật đã bắt đầu có tuổi, người muốn chọn 1 người hầu cận gần gũi phục vụ cho các công việc hàng ngày, lo ăn uống, sinh hoạt, lo tổ chức và truyền đạt các chỉ dạy cho Tăng-đoàn. Ca Diếp (và nhiều người khác) là các đại đệ tử của đức Phật, về học vấn đứng vào hàng đầu, nhưng lúc đó cũng đã có tuổi, người được chọn là A-nan vì nhiều lý do khác nhau. A-nan là em họ của đức Phật, bố của A-nan là anh em với bố của đức Phật, về quan hệ họ hàng là gần gũi. Kế đến nữa là A-nan còn trẻ, nhanh nhẹn phù hợp với công việc. A-nan với đức Phật 1 lòng tôn sùng, thành kính, chu đáo, và đặc biệt A-nan nổi tiếng với khả năng ghi nhớ siêu phàm, hàng vạn lời đức Phật nói ra, nói lúc nào, ở đâu, nói như thế nào, A-nan có thể lặp lại không sai sót.

Đại hội Kết-tập lần thứ nhất sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử họp lại để “chuẩn hoá” những lời dạy, hội nghị này do Ca Diếp tổ chức! Hội nghị phụ thuộc rất nhiều vào A-nan, vì cái trí nhớ siêu phàm của ông ấy! Các kinh điển Phật giáo thường bắt đầu bằng câu: Evaṃ mayā śrūtaṃ, 如是我聞, Như thị ngã văn, Tôi nghe như vầy…, được cho là lời thuật của A-nan, A-nan thuật lại từng lời một, nếu tất cả 500 vị A-la-hán của Tăng-đoàn đều đồng ý thì lời đó trở thành kinh văn chính thức! Nhưng có 1 điều, A-nan là người duy nhất, trong số 500 thành viên hội đồng chưa… đắc quả A-la-hán! Chính bởi cái trí nhớ siêu phàm, cái gì cũng nhớ đó nên A-nan chưa thể đắc pháp, ít nhất là cho đến sau khi đức Phật khứ thế, những người khác, vì ít vướng bận vào ngôn ngữ, nên lại dễ thành công hơn!