duyên khởi

hu Nhà Bè tôi ở có khá nhiều chùa chiền, cơ sở Phật giáo. Sâu xa trong lịch sử phát triển của một vùng đất, khu vực nào dân sinh còn dã man, dân trí còn thấp kém, các bậc hành giả thường hướng về đó, xây chùa, giảng pháp, giáo hoá chúng sinh, đó cũng điều hiển nhiên, dể hiểu!

Chụp được cái poster này ở gần nhà cũng đã khá lâu. Sâu xa thì tôi không tán thành lắm với cách lý giải Phật giáo một cách quá ư bình dân, sơ đẳng như thế. Nhưng phần nào đó, những cách lý giải đó, nó vẫn đúng, đúng một cách vừa ngây ngô, vừa thô thiển, lại vừa… sâu sắc! 🙂 Xem kỹ hình bên dưới:

Nhân: dụ dỗ lừa gạt người ngu, Quả: ngu si dễ bị lừa gạt! Ôi sao lại thế, sao lại có thứ logic lạ lùng như vậy?! Thì ví dụ là đám “đa cấp” đấy, tự chúng nó “thông minh” với nhau! Một ví dụ rất “thấp”, nhưng nhiều chuyện khác cũng y như thế, rất nhiều người vì “thông minh” mà tự mình “tạo nghiệp”! 😀

Ở tầm cao hơn, bắt đầu từ “Tứ diệu đế” (4 chân lý màu nhiệm), “Bát chính đạo” (8 con đường đúng đắn), “Nhân quả và Duyên khởi”, Phật giáo chẳng có vẻ gì là “tôn giáo”, chỉ là: 1 chút luân lý (ethics), 1 chút luận lý (logic), 1 chút tâm lý học (psychology), 1 chút khoa học nhận thức (cognitive science)…

vận động

ừ 10, 15 năm trước, tôi đã có nhận định rằng sức khoẻ thể chất và đặc biệt là sức khoẻ tinh thần người Việt có vấn đề, 70~80% người Việt có biểu hiện bệnh lý thần kinh, nặng hay nhẹ, dạng này hay dạng khác! Nguyên do sâu xa nằm ở tầng văn hoá, thiếu chiều sâu, thiếu hiểu biết, chia xẻ giữa người và người, thiếu khả năng xây dựng giá trị cộng đồng. Cộng với thiếu vận động thời gian dài dẫn đến thực trạng như hiện tại!

Không có đủ kiên nhẫn tìm hiểu vấn đề gì cho thấu đáo, ai nói gì cũng tin, sẵn sàng nghe theo bất kỳ sự xúi dục vớ vẩn nào! Lật lại vụ “cha chơi đùa với con bị giết chết” mới thấy đó là cả một thế hệ bị “côn đồ hoá”! Cái “chấp ngã” quá lớn: điều tôi thấy phải đúng, điều tôi nghĩ phải đúng, nên chỉ cần một câu nói, một sự xúi dục nhỏ nhất là sẵn sàng giết người! Để cho “tôi được đúng” thì điều tệ hại nào cũng làm!

Từ anh tiến sĩ “học nhiều”, cho đến gã xe ôm “học ít”, cái sự “chấp ngã” đều lớn như nhau, lớn đến mức ngoài “cái sự đúng của tôi” ra, chẳng còn gì quan trọng hơn nữa, những cái tôi hoang tưởng, méo mó, bệnh hoạn! Cùng với truyền thông hiện đại, khi công nghệ đã trang bị cho mỗi người một cái màn hình be bé, thì sự nô dịch tư tưởng & tâm hồn đã bắt đầu. Cả XH mụ mị trong những chiêu trò truyền thông nhảm nhỉ!

Gốc rễ vấn đề quay về trong 1 chữ: vận động! Vận động thể chất, tinh thần, vận động mọi mặt, giữ cho tâm hồn được tự do, mạnh khoẻ, giữ cho mầm mống thiện lương sống bên trong mỗi người chúng ta!

biết tuốt để làm gì!?

iết tuốt để làm gì!? Viết nhân đọc được 1 bài hiếm hoi đề cập đúng bản chất vấn đề. Vì tôi đã từng là 1 thằng “biết tuốt”…

Hồi học lớp 6, 7, trường cấp 2 Trưng Vương, tôi đã là 1 kiểu “ngôi sao biết tuốt” của trường, chuyên đi thi Toán, chuyên đi tham gia các kiểu “Đố vui để học” phát sóng trên truyền hình tp. Đà Nẵng những năm đầu 9x. Thành phố bé tí có 4, 5 trường phổ thông thi với nhau, gần như năm nào Trưng Vương cũng đoạt giải nhất, năm nào tôi cũng đạt số điểm cao nhất. Tả lại 1 chút cho mọi người hiểu về cuộc thi, “format” này thực sự không mới, đã làm trên sóng truyền hình miền Nam VN trước 75.

2 đội, mỗi đội 3 người, ngồi 2 cái bàn riêng biệt, tay đặt lên nút chuông, giám khảo đưa ra câu hỏi xong thì ai bấm chuông trước được quyền trả lời, đúng được cộng, nhưng sai thì bị trừ điểm. Có 1 lần đang thu hình thì… cúp điện, trong lúc chờ máy phát điện hoạt động thì ông thầy Bùi Thế Mỹ đi qua đi lại doạ nạt: em trả lời sai rồi, nhưng tôi khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình. Điện có trở lại, tiếp tục ghi hình, giám khảo đành phải cho tôi điểm vì trả lời đúng, năm đó, Trưng Vương lại về nhất!

Cái thời đói kém, sách vở, thông tin thiếu thốn, nên những trò chơi như thế cũng tương đối vui. Nhưng ngay từ những ngày đó, lũ học sinh chúng tôi đã nhận ra rằng biết nhiều như thế cũng ko để làm gì, cũng 1 kiểu con vẹt, tỏ ra ta đây hiểu biết, ta đây hơn người mà thôi. Rất may là ngoài những kiểu “biết tuốt” như thế, tôi còn biết thêm rất nhiều thứ khác nữa: biết bơi hơn 10km, biết leo núi, băng rừng, cắm trại, biết dùng “trăm phương ngàn kế” để cưa gái .v.v. đó mới là những kỹ năng hữu ích! 😀

Vâng, biết cưa gái, 1 cách sáng tạo và đứng đắn, đó cũng là 1 kỹ năng, thời bây giờ gọi là “kỹ năng mềm” ấy! Nhớ lại cái thời “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, bạn tôi viết thư tình cho gái thế này (thời đó chỉ có thư giấy thôi, chưa có di động, tin nhắn đâu): em à, ở đây muỗi nhiều lắm, mở ngoặc, dùng hồ dán 1 con muỗi chết vào đó, đóng ngoặc, chấm! 😀 Chính những cái “joie de vivre” (tiếng Pháp: niềm vui sống) như thế mới là những động lực để con người ta phấn đấu, cố gắng lâu dài trong cuộc đời.

Những con người / thế hệ ít vận động thực tế cứ nghĩ rằng càng biết nhiều là càng tốt! Biết thì đã sao mà không biết thì đã sao!? Chưa kể thời nào cũng thế, sách vở, chữ nghĩa cũng đầy rẫy loại “đạo tặc”, đọc nhiều những thứ “trít học” vô bổ nó ám vào người, đẻ ra những kiểu “lơ lơ lửng lửng”, gì cũng biết nhưng ko biết được gì! Quan trọng nhất là hao phí sinh lực tuổi trẻ vào những điều ko thiết thực, cốt chỉ để thoả mãn cái mong muốn tỏ ra hơn người. Ngay từ gốc, động cơ của việc học là đã sai!

Thời đại bùng nổ thông tin, hàng tỷ tỷ gigabytes dữ liệu, làm sao mà nhớ hết, và nhớ để làm cái gì!? Càng nhớ nhiều, đầu óc càng mụ mẫm đi, kiểu như 1 con vẹt, chỉ biết “tụng niệm, giáo điều” chứ thực ko có tư duy sáng tạo. Rất nhiều thứ bây giờ người ta ngỡ là “kiến thức”, thực ra mới chỉ là “thông tin”, thậm chí thông tin còn chưa biết chất lượng thế nào! Trong sự phát triển của tư duy con người, có rất nhiều “level” khác nhau, phải phân biệt rất rõ ràng giữa thông tin, kiến thức và tri thức!

bích nhãn hồ

heo các kinh điển Phật giáo ghi lại thì một trong 32 tướng mạo tốt của đức Phật là ngài có mắt màu xanh (!!!) Nên biết Ấn Độ thời của đức Phật khác với Ấn Độ bây giờ, dù là xét về chủng tộc, văn hoá hay ngôn ngữ. Trước khi nhập diệt, đức Thế tôn đã nói rằng: Này các chư tăng, vạn vật trong thế gian thảy đều vô thường, không gì tồn tại mãi, vì vậy hãy luôn kiên trì, tinh tấn trên con đường tự mình tìm lấy giải thoát!

Chuyện kể thêm về “tinh tấn”: đệ Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc – Huệ Khả tìm đến Sơ tổ – Bồ Đề Đạt Ma xin học đạo nhưng không được chấp nhận, ông quỳ trước sân suốt đêm, tuyết ngập đến ngang thắt lưng. Sáng hôm sau, Bồ Đề Đạt Ma mới hỏi: ngươi bảo có quyết tâm học đạo, thế quyết tâm của ngươi đâu, cho ta xem! Huệ Khả liền rút đao chặt cánh tay trái của mình dâng lên (chuyện kể lại trong bức tranh dưới đây).

Sách vở TQ ghi lại rằng Bồ Đề Đạt Ma cũng có mắt màu xanh: 碧眼胡 – bích nhãn Hồ – người “Hồ” mắt xanh. Thế rồi hơn 2500 năm sau, ở một xứ cũng tạm gọi là “Phật giáo”, “tinh tấn” chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn “tinh tướng”, nhiều người hết “Thưa mẹ con đi” lại đến “Về nhà đi con”, cứ đi ra đi vào một vài bước con con như thế, tự tạo nên một đám bụi mù, rồi cũng học đòi, nhân danh, nào là “Vu Lan”, nào là “Giải thoát”, “Giác ngộ” .v.v. 😞

narcissism of small differences

hu vực tôi sinh ra & lớn lên, bên này & bên kia đèo Hải Vân, cách nhau một ngọn núi nhưng đời sống người dân có nhiều khác biệt: giọng nói khác nhau, tâm tính khác nhau, tập quán sinh hoạt cũng hơi khác nhau. Chính vì những sự khác biệt nho nhỏ ấy mà đẻ ra biết bao nhiêu mâu thuẫn, kèn cựa, thù ghét, mỉa mai, đàm tiếu, hài hước…

Ấy là còn cách nhau một con đèo, còn cách trở một chút. Gần hơn, như một dải từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên, con người từng vùng cũng khác biệt. Với người miền ngoài mà nói thì hầu như không thể phân biệt giọng Quảng Bình với Quảng Trị, Quảng Trị với Huế. Nhưng với người địa phương thì sự khác biệt là rất rõ ràng, hiển nhiên.

Ngay bên trong một tỉnh, từ huyện này sang huyện khác, từ làng này sang làng khác cũng không hoàn toàn giống nhau. Sự khác biệt từ ngôn ngữ giọng nói, đến phong tục, tập quán, đến độ có những câu “thành ngữ” kiểu như: Bất thú Dạ Lê thê, bất thực Nguyệt Biều kê… – không lấy vợ làng Dạ Lê, không ăn gà làng Nguyệt Biều… 😀

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó, theo cái nhìn của Freud, là một trong những động lực chính để các nền văn minh đấu tranh và phát triển. Trong nỗ lực tạo nên sự khác biệt, con người ta có xu hướng ghét những cái giống mình, mà thích những thứ khác biệt với mình, đó âu cũng là bản tính tự nhiên của con người và muôn loài!

Suốt lịch sử nhân loại, hầu hết những xung đột đều là những mâu thuẫn cục bộ nhưng gay gắt, càng giống nhau lại càng gay gắt. Xưa đã có Hy Lạp & La Mã, Ngô vương Phù Sai & Việt vương Câu Tiễn, gần hơn thì Anh & Pháp (nội chiến 2 Hoa hồng), Anh & Đức (WWI & II), Iran & Iraq, gần nữa thì Nam & Bắc Triều Tiên, Ukraine & Nga, etc…

Cái ám ảnh tự kỷ về những khác biệt nhỏ đó nó lặp đi lặp lại trên nhiều mức độ, quy mô khác nhau. Như người Việt tự nhìn mình thì Nam VN và Bắc VN khá là khác nhau: Mạc & Trịnh khác nhau, Trịnh & Nguyễn khác nhau, Nguyễn & Tây Sơn khác nhau. Nhưng từ góc nhìn phương Tây thì cả Nam & Bắc VN đều giống nhau và đều rất giống… Trung Quốc.

Suốt hơn 2000 năm, Trung Quốc là cái lý do căn bản để VN… đến như ngày hôm nay. Chúng ta học họ mọi thứ, từ ngôn ngữ đến văn chương, từ phương thức sản xuất đến thể chế chính trị. Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục học, TQ làm cái gì là y như rằng 5, 10 năm sau, chúng ta bắt chước làm theo (kiểu như “điện mặt trời” và “ví điện tử”).

Nhưng cũng vì quá giống nhau như thế, nên hết lần này đến lần khác, xuyên suốt lịch sử, cái ám ảnh tự kỷ đó lại thôi thúc VN đi tìm kiếm, khẳng định bản sắc riêng của mình, luôn muốn tách ra để được “độc lập”, không chịu nằm trong vòng ảnh hưởng của TQ. Căn bản, đó cũng là một điều tốt, tiếc là sự “khác biệt” tạo ra chỉ ở trên “đầu lưỡi”.

Khác biệt nhỏ, nhưng thế nào là to, thế nào là nhỏ…tất cả đều tương đối. 15 tuổi, tôi đã thấy những khác biệt địa phương là nhảm nhí, 25 tuổi, đã thấy toàn VN đâu cũng như nhau… Toàn cầu hoá, kết nối thông tin, thế giới lại càng trở nên “không phẳng” hơn bao giờ hết, tất cả khác biệt, to hay nhỏ sẽ đều được đem ra xét lại… (to be continued)



chuyển động brown – brownian motions

ó những chiều, tìm cách nhích từng bước nhỏ trong dòng xe đông đặc, ken kín của Sài Gòn… ngột ngạt khói bụi, inh ỏi còi bấm, lất phất mưa rơi. Cả một rừng người căm phẫn, dẫm đạp, chửi bới nhau, ai cũng muốn thoát ra nhưng không ai có thể! Nhiều khi cũng muốn chửi thề lắm, nhưng như người ta nói: people living in glass house shouldn’t throw stones – người đang sống trong nhà kính không nên ném đá, bởi chính tôi cũng đang là một người tham gia giao thông, cũng đang góp phần tạo ra cái tệ nạn nan giải ấy, dù muốn dù không cũng đang là một phần của nó!

For your own sake peace – of – mind, ai chịu đựng được cái “thảm cảnh” ấy, chứ tôi thì không! Nhất là khi có vài cô chú Tây đứng trên lề đường, giương máy ảnh, điện thoại chụp lấy chụp để, kiểu như là họ đang được chứng kiến được một giống loài hiếm có trong sở thú ấy! Mà dân Việt Nam, dù tròm trèm 100 triệu người, quả là một chủng loại khá hiếm hoi trên cái quả đất này về cái khoản tự sinh ra, tự chịu đựng tệ nạn, vừa ăn cướp vừa la làng, vừa là thủ phạm cũng như vừa là nạn nhân của chính mình, mà tuyệt nhiên không hề có một chút ý thức nào để cải thiện tình hình!

Nhìn từ trên cao, tất cả giống như một kiểu chuyển động Brown – Brownian motion của hàng triệu hạt phấn hoa đặt trên một giọt nước khi quan sát qua kính hiển vi, điên cuồng, hỗn loạn, giống như mô tả của nhà sinh học Robert Brown mấy trăm năm về trước! Quay trở lại chuyện các cô cậu Tây chụp ảnh, tôi thấy… nhục nhã vô tận! Muốn bước đi chỗ khác, nhưng chẳng thế nào mà bước đi đâu được! Dĩ nhiên, với tầm cỡ cá nhân mình thì đúng là bất lực trong việc giải quyết các vấn đề nan giải của cộng đồng và xã hội, mà cũng chẳng hơi đâu quan tâm chuyện vĩ mô!

Trong nhận thức của tôi, không có chuyện đúng / sai theo kiểu “biết rồi để đó”, “ậm à ậm ờ”, tức là người “biết” đúng mà không làm theo, không ủng hộ cái đúng thì trong sự phân loại của tôi, được xếp vào loại “chưa biết”. Chả ai hơi đâu đi phân tích đúng / sai bên trong một con người, người ta chỉ căn cứ vào kết quả sau cùng, chẳng cần phải “lý gio lý trấu” gì! Các bạn đừng cho rằng tôi “cực đoan”, vì sự chọn lựa cuối cùng mới nói lên bản chất con người, và “nhận thức” là để phục vụ cho “hành động”, chứ thời buổi internet này, bảo “biết” một cái gì đó thì có vẻ như ai cũng “biết” cả!

Nói về ủng hộ hay phản đối xe hơi, xe máy, đó không phải chỉ là vấn đề kinh tế! Xe hơi nếu bán đúng giá, tôi nghĩ không phải là chuyện quá lớn. Vấn đề lớn hơn là quy hoạch đô thị! Nhưng còn lớn hơn nữa là thói quen sinh hoạt của người dân, ai cũng thích những tiện lợi nho nhỏ, ai cũng muốn xẹt qua xẹt lại nhanh chóng! Nếu đã nghĩ đến đó, lập tức chúng ta nhận ra… hình như bài toán không có lời giải! Kinh tế có thể phát triển, đô thị có thể mở rộng, nhưng các bạn nghĩ có thể thay đổi được bản chất của người Việt ư!? Ai còn ảo tưởng về điều đó, chứ tôi thì không mảy may!

Nghĩ rồi làm, thế là tôi đạp xe từ hơn 3 năm nay, xe máy vẫn để đó nhưng chỉ khi đi đâu xa, hoặc đi có việc gấp thì mới dùng đến! Còn đi cafe, siêu thị, gặp gỡ bạn bè, hàng ngày tôi vẫn đạp xe, 20, 30 km vẫn đạp! Tức là vẫn còn dính dáng đến những thứ gây kẹt xe, ô nhiễm, nhưng ở một mức độ khá ít! Thêm nữa là có lợi cho sức khoẻ, rèn luyện đôi chân (đôi tay đã có bộ môn chèo thuyền). Nhưng đi đâu, làm gì cần phải tính toán kỹ càng, không thể ngẫu hứng mà xẹt xẹt xe máy như trước được! Giờ thì trên cạn, dưới nước, em đều dùng sức người nhé, toàn phải đổ cơm mới chạy cả! 🙂






thế hệ từ khoá, thế hệ vô hồn

iếp tục series những post trước, một kỹ thuật nguỵ biện hàm hồ là bịa ra những khái niệm trống rỗng (kiểu như “bolero”, “phượt thủ”, etc…) để dẫn dắt dư luận, “chụp mũ”, đánh đồng tất cả tốt xấu, đây có thể xem là những hành động “bất lương” của một đám gọi là “nhà báo”!

Người ta đi du lịch chẳng ai giống ai… anh hoạ sĩ đi tìm chất liệu sáng tác, anh nhiếp ảnh đi tìm khung hình đẹp, người đi tìm hình dáng kiến trúc, văn hoá dân gian, các bạn trẻ cũng đi để “check-in” một phát, khoe với bạn bè, thoải mái đầu óc, việc đó cũng chẳng có gì sai cả! Dĩ nhiên không loại trừ vài cá nhân có những hành động chưa được đẹp!

Thế nhưng cái đám “nhà báo” suốt ngày la liếm chuyện “trong nhà ngoài ngõ” trên mạng thì nhất quyết phải chụp mũ cho bằng được, bằng một khái niệm gọi là “phượt thủ”, kéo tất cả những ai đi du lịch vào đó, phải tạo ra một “cái tên”, một “danh từ”, một “từ khoá” có thể search Google được, bắt người khác tin vào đó, gieo rắc tâm lý phán xét bầy đàn.

Cái tâm lý muốn được phán xét, được tỏ ra hiểu biết thực ra cực kỳ mạnh mẽ: à, ta đã biết rồi, anh A là như thế này (abc), thằng B là như thế kia (xyz), nhưng thực ra A, B là ai thì cũng chẳng ai biết, mà abc, xyz là như thế nào cũng chẳng ai hiểu! Cái sự vô minh, vô hồn của đám đông, dưới sự dẫn dắt của truyền thông, dần dần trở thành tội ác!

Nó đẻ ra những con người tách rời với thực tế, hoàn toàn không hiểu tự nhiên vận động như thế nào, tất cả chỉ quay cuồng trong những suy nghĩ hời hợt, nhảm nhí, ghen ăn tức ở lặt vặt… Công bằng mà nói, không phải chỉ thời buổi Internet mới đẻ ra những con người như vậy, mà thực sự đã có rất lâu từ trước đó, những ông già đọc sách “triết học cao siêu” khi đất nước đang chìm trong khói bom đạn! 😀

Một cá nhân lành mạnh chỉ quan tâm đến nội dung công việc anh ta làm, chẳng hơi đâu tranh luận những “khái niệm” rỗng tuếch! Tôi nói đó là những kiểu “nguỵ biện” mà đám “báo chí bất lương” hay sử dụng: nào là “bolero”, nào là “4.0”, nào là “phượt thủ”, nào là “thế giới phẳng” etc… Bao giờ thì em suy nghĩ mới có được tí nội dung, hả em!?

bolero












ại nói về bolero… từ nhiều năm nay, tôi khá là ngạc nhiên khi thấy những người làm chuyên môn âm nhạc cứ loay hoay như “gà mắc tóc” với cái gọi là bolero, mà không hề nhận ra, đó đơn giản chỉ là một kiểu “kỹ xảo ngôn từ”, một loại “nguỵ biện càn quấy”, “nói cho lấy có, nói cho lấy được”, chẳng hề có một tí nội dung nào. Dưới đây, tôi sẽ giải thích tại sao cái gọi là “bolero” chỉ là một hình thức nguỵ biện dạng thô thiển nhất!

Giáo dục âm nhạc là một quá trình dài, mỗi người có sở thích riêng của mình. Nên xin nói ngay từ đầu là tôi tôn trọng sở thích tự do của mỗi người, trong chừng mực nó đừng vi phạm sự tự do của người khác! Nhưng khi đã biến thành một trào lưu xã hội, một trào lưu kệch cỡm và lố bịch thì cần có những tiếng nói để cho những đầu óc mê muội tỉnh ngộ ra, nhận ra căn nguyên, lịch sử của căn bệnh để mà có giải pháp trị liệu!

Đầu tiên, bolero chỉ là tên một tiết điệu, cũng như: valse, rumba, slow, pasodoble, etc… Không phải âm nhạc nào cũng có thể phân loại thành tiết điệu, các loại âm nhạc càng “bác học”, càng phong phú, thì càng khó gom vào một nhóm cụ thể. Tiết điệu thường dùng cho các loại âm nhạc tương đối ngắn, đơn giản, để người ta dể khiêu vũ hơn, thế thôi! Chẳng ai đi hỏi câu ngu xuẩn: bản giao hưởng Định Mệnh của Beethoven là điệu nào?

Tiết điệu chỉ là một chỉ dấu kỹ thuật, ngoài ra không có nội hàm gì khác! Beethoven viết một số bản nhạc theo điệu valse, Dương Thiệu Tước cũng viết một số bản nhạc theo điệu valse. Người ta sẽ nhìn anh như kẻ khùng nếu bảo: DTT viết chung một thể loại nhạc với Beethoven, hay nói rằng: DTT là tiếp nối truyền thống từ Beethoven. Chẳng ai lại đi phân loại âm nhạc dựa trên một chỉ dấu kỷ thuật nhỏ nhoi, chẳng có ý nghĩa gì như vậy!

Bắt đầu từ một cái “định nghĩa” không thể “tào lao, ba xàm” hơn như thế, tiếp theo đó là các hình thức “chụp mũ”, “vu vạ”, “nhận vơ”, thôi thì không thiếu một điều gì. Như Hoàng Thi Thơ viết đa số các bản nhạc của ông theo điệu rhumba, cũng bị nhận vơ là “bolero”, rồi Hoàng Trọng viết phần lớn các tác phẩm theo điệu tango, cũng bị vơ vào “bolero”. Ngay cả những ca khúc được xem là “bolero” nhất, thực sự có bao nhiêu bài đúng là bolero!?

Các NS Cung Tiến, Vũ Thành An… hẳn rất buồn nếu cái thể loại nhạc vừa bước ra từ cửa Nhà thờ của các ông ấy bị xem là bolero. Lê Thương với trường ca Hòn Vọng Phu và rất nhiều bài mang âm hưởng dân ca khác hẳn cũng sẽ băn khoăn tự hỏi bolero là cái gì, và tại sao mình bị chụp mũ như vậy!? Riêng Trịnh Công Sơn chắc hẳn yên tâm hơn một chút, khi các giai điệu thuần tuý thất cung – Tây phương của ông hơi khó gán mác bolero!

Tiếp theo, khi không thể định nghĩa “bolero” bằng những yếu tố kỹ thuật, nhạc thuật, người ta bắt đầu lấp liếm rằng bolero không phải là một điệu nhạc, mà là một dòng nhạc, với những đặc trưng như: tốc độ chậm, giai điệu dân ca, ca từ bình dân, mang tính triết lý, vâng vâng… Xin nói luôn, cái gọi là “dân ca” chắc chắn không có được mấy phần ngàn đâu, có chăng là kỹ xảo âm thanh để tạo nên những tâm trạng “lê thê”, “thiểu não”.

Còn “tốc độ chậm”, nhiều thể loại nhạc có tốc độ chậm, bài Đôi bờ nhạc Nga cũng chậm, và bản đó cũng là điệu bolero! Còn về “triết lý”, hahaha, Phạm Duy viết Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Văn Cao viết Trương Chi, Thiên Thai, hay nhiều nhạc sĩ khác viết tình ca, chẳng cần phải có chút “triết lý” nào! Đừng cố nguỵ tạo sự sang trọng trong một thể loại vốn dĩ không hề sang trọng! Cái cố gắng “đặt tên cho em” này xem ra hoàn toàn không ổn thoả!

Ngay cả Bolero Nam Mỹ cũng không có một định nghĩa rõ ràng, thì nói gì đến bolero VN! Đi tìm đặc trưng của cái gọi là “Bolero VN” chẳng qua chỉ thấy mấy điểm sau: cấu trúc bài nhạc tối giản, thường chỉ có 4 câu, mỗi câu 4 nhịp, mỗi nhịp thường là 4/4, cấu trúc này giống vọng cổ, hoàn toàn không có các kỹ thuật hành âm phức tạp hay âm vực rộng, chủ yếu là để tạo ra các khúc nhạc “siêu đơn giản”, để cho giới bình dân dễ thuộc, dễ hát.

“Đơn giản” hay “chậm” không phải là cái tội, tội là… nhạc quá dở! Nhiều nhạc sĩ viết nhạc “đơn giản” và “chậm” nhưng vẫn hay! Từ những thuộc tính rất chung chung như thế, bắt đầu gán gép: tôi là bolero, anh cũng là bolero, tạo ra một cái “danh từ” trống rỗng để lừa nhau! Cũng là một kiểu nguỵ biện: con voi có cái đầu, con chuột cũng có cái đầu, con voi có cái đuôi, con chuột cũng có cái đuôi, thế nên… voi hay chuột thì cũng giống nhau! 😁

Từ trong tận cùng của sự ngây ngô, đơn giản như thủa hồng hoang ấy, đối diện một thế giới đã phát triển phức tạp và trình độ nhạc thuật đã đi đến tận những đâu đâu, không có khả năng hay không hề muốn mở mang đầu óc ra để chấp nhận, tiếp thu cái mới, không khó hình dung rằng những con người ấy dần dần đi đến chỗ tự huyễn hoặc, tự cho rằng mình đã là “một cái gì đó”, tự nhiên sinh ra đã là có rồi, không cần phải học hành gì nữa!

Theo tôi, đây có thể gọi là một chứng “vi cuồng”, như là sự đối lập của chứng vĩ cuồng (đọc kỹ bài của GS Cao Xuân Hạo để biết thêm về một căn bệnh xã hội)! Tuy rằng mức độ nặng nhẹ có khác nhau, nhưng nguyên nhân cũng chỉ có một! Đó là cái áp lực xã hội muốn khẳng định, muốn thể hiện mình, nhưng lại không muốn bỏ công phu học hành tử tế, hoặc hoàn toàn không có khả năng, hoặc giả cũng cố học, nhưng không thấm được!

Đến đây, các bạn hẳn đã nhận ra, “bolero” thực chất là một kỹ thuật nguỵ biện, bắt đầu từ một cái “định nghĩa” không thể tào lao hơn, làm cho người ta tin rằng đó là một “thực thể” có thật, tiếp đó là các kiểu nhận càng, nhận vơ. Những kiểu người và ăn nói như thế, họ muốn trở thành thế nào thì họ là như thế, tự biến thành ông hoàng, bà chúa (trong tưởng tượng), tuỳ tiện thêm bất kỳ nội dung gì vào một cái định nghĩa trống hoác cũng được.

Vậy phải gọi nó bằng cái tên gì? Đơn giản chỉ là một phần (chỉ là một phần) âm nhạc đô thị miền Nam những năm người Mỹ có mặt, một giai đoạn mà chính nhạc sĩ Phạm Duy (một người không CS) phải nói rằng: về mặt xã hội là cả một sự đổ vỡ về luân lý, sự mất niềm tin, tôi gọi thời kỳ này là thời kỳ sợ hãi, hoài nghi và khinh thị (le temps de la peur, du soupcon et du mépris). Thời kỳ nào thì có thứ âm nhạc đó, chỉ đơn giản vậy thôi!

Và nói “chỉ một phần” đúng là như thế, cùng trong giai đoạn lịch sử đó, Phạm Duy viết Tâm ca và Tâm phẫn ca, Tôn Thất Lập và phong trào “hát cho đồng bào tôi nghe”, Thích Nhất Hạnh làm thơ, diễn thuyết và tổ chức biểu tình bất bạo động, còn nhiều lắm… ai cũng có một phần thái độ và hành động của mình, không riêng gì người CS. Chỉ có những kẻ “bolero” là tìm cách ru ngủ, lãng quên ngày tháng bằng cái thể loại âm nhạc vô vị, nhảm nhí!

thanh điệu

ói chuyện… chính tả, lần này từ góc nhìn của một kẻ tập tễnh làm nhà ngôn ngữ học 😁. Xưa giờ, dù thi thoảng vẫn viết sai chính tả (thường là do vô ý hay do đánh máy quá nhanh), tôi vẫn chủ trương mọi người viết đúng một thứ chính tả chung! Đó là lẽ hiển nhiên, vì mình viết là cho số đông người khác đọc và xã hội phát triển thì mọi điều cần phải được chuẩn hoá! Cho nên sai thì thi thoảng vẫn sai, nhưng chuẩn thì vẫn cứ phải chuẩn. Thế nhưng vẫn có những suy nghĩ khác, khác với số đông thường nghĩ. Những suy nghĩ bất chợt đến khi trò chuyện với những thiếu nữ Mông ở Đồng Văn và Mèo Vạc, những người đã đi học và nói tiếng Phổ thông còn xịn hơn, còn dể nghe và hay hơn cả tôi, ít nhất là về mặt phát âm!

Hồi trước nghĩ rằng tiếng Việt có 6 thanh sắc (hoặc 5 thanh tuỳ vùng) đã là nhiều lắm rồi, nhưng đến khi lên cao nguyên Đồng Văn, nghe người Mông nói mới biết tiếng Mông ở Việt Nam có đến 7 thanh, tiếng Mông một số vùng ở Trung Quốc có đến… 8 thanh. Thật khó hình dung một ngôn ngữ lại có nhiều thanh điệu như vậy, líu lo còn hơn cả chim hót! 😁 Tiếng Hoa cổ (cổ ở đây là nói thời Đường), lấy âm địa phương Trường An làm chuẩn, theo ghi nhận của “Thiết vận”, có 6 thanh. Thiết vận (phiên thiết) là gì thì người học chữ Hán mới biết, nhưng nôm na là một phương pháp ghi âm của người xưa, xuất hiện từ thời Tuỳ, Hán, thậm chí có thể còn sớm hơn. 6 thanh của tiếng Hán cổ đó, miễn cưỡng có thể “ánh xạ” vào 6 thanh của tiếng Việt.

Tiếng Mông 8 thanh, tiếng Việt 6 thanh, tiếng Hoa hiện đại chỉ còn 4 thanh… Nói điều này sẽ có người phản đối, nhưng một nền văn minh càng khép kín, càng lạc hậu thì ngôn ngữ càng có nhiều thanh sắc! 😁 Đó là vì càng hiện đại, càng có nhu cầu giao tiếp đến lượng lớn thính giả, thì ngôn ngữ càng phải bỏ bớt những “khu biệt” địa phương, vùng miền, dần dần bỏ bớt số thanh điệu. Tại thời điểm lưu truyền vào Việt Nam, Thiết vận đã ghi nhận những phát âm không còn tồn tại, vì nó là một hệ thống ký âm đã có từ trước đó rất lâu. Có nghĩa là tiếng Hoa thời Đường đã khác thời Hán rất nhiều, nhiều “ký âm” chỉ còn tồn tại trong sách vở chứ không còn trên thực tế! Điều tương tự cũng đúng cho tiếng Việt và hệ thống ký âm “Quốc ngữ”.

Hệ thống ký âm Quốc ngữ, từ khi hình thành, lấy “chuẩn” là một địa phương đâu đó ở vùng Quảng Bình, khá nhiều ký âm cổ cũng đã không còn tồn tại ngay tại gốc Quảng Bình, ví dụ như: “các” & “cát”, “ngan” và “ngang”… theo như quan sát hiện tại hầu như đã đồng nhất. Các địa phương càng cổ, càng bảo thủ (điển hình là một dải khu 4, từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Huế) thì sự “khu biệt” càng lớn. Tiếng Hoa hiện đại đã phát triển đến một mức mà rất nhiều ký âm không thể phân biệt được, không những “mam” và “man” đọc như nhau, mà “man” và “nan” cũng đọc như nhau, nghĩa là “m” và “n” đọc như nhau, dù đứng đầu hay cuối con chữ. Suy nghĩ lan man… nhận thấy rằng sự tiến hoá của tự nhiên, nó khác xa những điều người ta thường nghĩ!

Nghe có vẻ hơi ngược đời, nhưng tôi nghĩ rằng, không nhất thiết phải chấp nhất quá triệt để vào hệ thống ký âm “Quốc ngữ”, vì nguyên thuỷ, nó đã không phải là một hệ thống ký âm phổ quát (mà thực sự thì làm gì có một thứ tiếng Việt phổ quát!?), và quan trọng nhất là xu hướng tiến hoá của ngôn ngữ thường không bảo lưu những khác biệt quá “tinh vi, nhỏ nhặt”. Viết đúng chính tả vẫn là việc cần phải làm, nhưng bên cạnh đó, sự phát triển của “chuẩn hoá”, cái suy nghĩ băn khoăn cho rằng tự nhiên là “deterministic” hay “non – deterministic”, là “tất định” hay “bất định”, vẫn luôn còn đó (tức là Einstein sẽ vẫn luôn đối nghịch với Heisenberg). Dù gì đi nữa, ngôn ngữ vẫn sẽ phát triển theo hướng âm luật dần đơn giản hoá, dần thống nhất!

thuật và đạo

hân chuyện nhiều VĐV VN dành được huy chương với bộ môn Jiujitsu tại ASIAD 2018 vừa qua… Jiujitsu dịch từ Kanji – tiếng Nhật sang âm Hán Việt chính là Nhu thuật, vậy nó khác với Nhu đạo – Judo như thế nào!?

Sách vở TQ xưa phân biệt rõ giữa Thuật và Đạo: Đạo là nguyên lý tổng thể, Thuật là kỹ thuật cụ thể. Phải tuỳ tình huống, không thể tuỳ tiện “phán” cái nào “cao” hơn cái nào. Ở Nhật Bản, ít nhất là từ gần 100 năm nay, đã có sự phân biệt rõ ràng, ví dụ như: Kendo là Kiếm đạo, Kenjutsu là Kiếm thuật, Judo là Nhu đạo, Jiujitsu là Nhu thuật, Aikido là Hiệp khí đạo, Aikijutsu là… Hiệp khí thuật… tương tự cho nhiều môn võ khác. Ở TQ hiện tại, trên danh nghĩa không có sự phân biệt đó, mặc dù trong thực tế vẫn có!

Chuyện bắt đầu khi Nhật Bản tiến hành hiện đại hoá các môn võ cổ truyền cách đây non 100 năm: chuẩn hoá, hệ thống hoá các bài bản, đồng thời loại bỏ các đòn thế nguy hiểm, dể gây chấn thương, chết người (các kiến thức đó được bảo lưu trong phần Thuật). Các võ sinh sẽ không được dạy những đòn thế nguy hiểm cho đến khi họ đạt đến một trình độ nhất định. Khi đó, xuất phát từ Đạo, họ sẽ bước chân vào Thuật, và khi đã đi thật xa trên con đường Thuật, đến một lúc họ sẽ… quay trở về với Đạo.

Võ học ngày nay đã không còn chức năng chiến đấu sinh tồn như trước, đa số người học là mục đích thể thao, dưỡng sinh. Thế nên đa số chỉ cần Đạo, một số ít các nghề đặc thù như cảnh sát, đặc công… mới cần Thuật. Không nên nghĩ Thuật chỉ là đôi ba đòn thế bí truyền nguy hiểm, lượng kiến thức được xác định là “hạn chế dạy” này thực sự rất khổng lồ. Tương tự, Thái Cực quyền TQ ngày nay là một môn dưỡng sinh, không phải võ chiến đấu, còn những ai muốn tìm hiểu sâu hơn, xin mời lên núi Võ Đang!

Thuật và Đạo giống như hai mặt của một đồng xu, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Nếu như Đạo đặt nặng vấn đề xây dựng những giá trị thể chất và tinh thần con người, thì Thuật lại đi sát với mục đích sơ khai của võ học, đó là để tự vệ hay khống chế đối phương, hay nói thẳng ra, đôi khi là để làm sao giết người nhanh nhất, hiệu quả nhất. Trong trường hợp của Nhật Bản là duy trì phát triển cả hai với hai “trường phái” tuy chung gốc, nhưng hơi khác nhau về phương châm, phương pháp: Thuật và Đạo.

Nếu đã hiểu vấn đề đến đây, thì mới thấy các chiêu trò “thách đấu” võ công, Thái Cực quyền, MMA, etc… mà báo chí cố tình “lăng xê” lâu nay thực ra chỉ là những thứ nhảm nhí, lợi dụng sự “mù mịt” của độc giả để câu view, nguỵ tạo tình huống có vẻ “trớ trêu”, gây sóng gió dư luận vớ vẩn, mà không hề biết “trời cao đất dày” như thế nào! Thực sự thì những điều đó chỉ có một lượng độc giả nhất định ở VN hay TQ, chứ với trình độ dân trí như ở Nhật Bản thì từ lâu họ đã thông suốt, phân biệt được Thuật và Đạo.