phạm duy – 3

Hãy nhìn cho khá sâu xa,
và sẽ nhìn thấy khúc điệu.

(Carlyle)

Nói vậy chắc không ai tin. Lúc tôi đã có vợ, tôi chỉ yêu một người phụ nữ trong 10 năm trời với mối tình rất nghệ sĩ. Tôi không đụng chạm tới cái chân lông của cô ấy. Cô ấy làm 300 bài thơ tặng tôi, tôi viết tặng cô ấy gần 50 bài tình ca hay nhất đời mình…

NS PD nói những lời này hiển nhiên là nói thật, tôi tin là như thế. Có điều đó chỉ là một nửa sự thật. Có thể ông đã yêu một người 10 năm trời mà không hề đụng chạm tới cái chân lông cô ấy, nhưng cũng trong thời gian đó, ông cũng có thêm vài đứa con rơi ở đâu đó. Để biết về cái nasty reputation người NS này, xin đọc 3 tập hồi ký của ông. 🙂


ăm 1954 đánh dấu một bước chuyển biến trong sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy. Ông hoàn thành phần đầu tiên của trường ca Con đường Cái quan (phần Từ miền Bắc), và bắt đầu chuyển hướng qua viết nhạc tình. Ở đây tôi xin phép được bỏ qua những phê bình hướng về đời tư của tác giả, một người có hàng chục (nếu không muốn nói là hàng trăm) người tình… Chỉ có một điều, nhạc tình của Phạm Duy cũng tuyệt diệu không kém gì những loại nhạc khác của ông.

Đường xưa lối cũ, Đường chiều lá rụng, Hoa rụng ven sông, Cho nhau, Xuân thì, Tìm nhau, Đừng xa nhau, Ngày đó chúng mình, Đường em đi, Thú đau thương, Còn gì nữa đâu, Kiếp nào có yêu nhau… chỉ là một ít trong số rất nhiều bản nhạc tình tuyệt vời của con người đào hoa Phạm Duy. Một số nhạc phẩm chỉ là những mối tình “sinh viên” lãng mạn, hẹn hò, một số lại là những cuộc tình gây chấn động tâm tưởng và để lại những vết cắt, vết đau lâu dài.

Kiếp nào có yêu nhau – Mỹ Linh
Đường chiều lá rụng – Thái Thanh

Trong số đó Đường chiều lá rụng là một bản nhạc đặc biệt, rất “khó chịu”, tinh vi về nhạc thuật, tác giả đã bỏ ý định chiều lòng đa số quần chúng nghe nhạc mà đặt nghệ thuật lên trên hết. Đây là một bản nhạc phức tạp, rất kén người biểu diễn và người nghe. Tuy vậy, Kiếp nào có yêu nhauNghìn trùng xa cách mới thực sự là một trong những đỉnh cao của nhạc tình PD. Có lẽ PD chỉ thực sự yêu có một người, và dành tất cả những bài tình ca hay nhất của mình cho người ấy, nhưng đấy lại là một tình yêu Platonic (chỉ có điều ông lại có những cái non-Platonic ở quá nhiều những người khác!).

Nước mắt rơi – Thái Thanh
Tôi còn yêu tôi cứ yêu – Khánh Ly

Năm 1960, PD hoàn tất trường ca Con đường cái quan, một công trình của nhiều năm làm việc và của một lời hứa thời hoa niên: ghi lại những gì ông đã tai nghe mắt thấy trên chuyến du ca xuyên Việt theo gánh hát Đức Huy. Qua những năm 60, khi cuộc sống gia đình đã ổn định tại Sài gòn, khi đã hoàn tất những đại tác phẩm, nhạc sĩ PD quay sang sáng tác những tác phẩm nho nhỏ xinh xinh: Xuân ca, Bài ca trăng, Bài ca sao, Nước mắt rơi, Ngậm ngùi, Mộ khúc

Ngoài ra, ông còn bắt đầu viết những công trình nghiên cứu về dân ca cổ nhạc: Đặc khảo dân nhạc Việt Nam (NXB Hiện Đại, 1972) và Đường về dân ca (NXB Xuân Thu, USA, 1990). Hiện tôi mới chỉ tìm được soft-copy của công trình đầu, xin post ở đây, (format ebook PRC), cuốn Đường về dân ca là một tác phẩm quan trọng nhưng do xuất bản tại Mỹ nên đến giờ tôi vẫn chưa tìm được. Những bài dân ca chúng ta còn nghe được hôm nay: Trèo lên Quán Giốc, Qua cầu gió bay, Cây trúc xinh… là nhờ công của ông.

Điều tôi yêu ở những ca từ của PD là chúng đẹp, tân kỳ nhưng đơn giản, gần gũi, không trừu tượng xa vời, không đao to búa lớn. Ca từ cũng như nhạc của ông không triết lý, không siêu hình, chỉ là những thoáng chớp thăng hoa của cảm xúc, của tâm hồn, vậy thôi: Vâng, tôi còn yêu, tôi còn lẽo đẽo mang nhiều mộng nghèo, đường về cõi tiên xa vời, nhạc trời đứt dây tơ rồi, thần đồng gãy đôi cánh vàng tả tơi… Vâng, tôi còn yêu, bên bờ suối vắng lạnh lẽo tiêu điều. Dòng lệ hết vơi lại đầy, ngập lụt thế gian đêm ngày, chập chờn bóng ma kêu bầy cuồng quay… (Tôi còn yêu tôi cứ yêu).

(Còn tiếp…)

phạm duy – 2

Hai tiếng Việt Nam quá lớn,
máu sẽ còn chảy bao nhiêu năm nữa
để tô thắm hai chữ Việt Nam?

(Phạm Duy)

Bên cầu biên giới – Thái Thanh

Thuyền viễn xứ – Lệ Thu

Thu chiến trường – Kim Tước

Chiều về trên sông – Lệ Mai

Chỉ trong vài năm đầu của kháng chiến 9 năm, gia tài âm nhạc của Phạm Duy đã đạt đến mức nhiều người phải ngưỡng mộ và đố kỵ. Xin mượn lời của nhà nghiên cứu âm nhạc Canada, G.E.Gauthier, để mô tả sự nhận thức của quần chúng thính giả đối với Phạm Duy giai đoạn này (một đánh giá PD như người nhạc sĩ lớn nhất trong toàn bộ lịch sử âm nhạc Việt Nam):

Các lớp quần chúng của chàng thanh niên Phạm Duy đó chắc chắn đã ngờ ngợ rằng một vì sao băng vừa mới xuất hiện trên nên trời nghệ thuật Việt Nam, một vì sao băng có lẽ đã vụt đi từ bốn nghìn năm về trước…

Về miền Trung – Ái Vân.

ôi đặc biệt thích những tác phẩm đầu tiên của nhạc sĩ Phạm Duy, từ Cô hái mơ, Tình kỹ nữ… đến Thu chiến trường, Bên cầu biên giới, Nhớ người ra đi, Bà mẹ Gio Linh… Những tác phẩm ấy báo hiệu một Phạm Duy đầy sức sống và sức sáng tạo về sau. Và cho đến bây giờ đó vẫn là đỉnh cao nhất trong những nhạc phẩm tiền chiến. Có lẽ sẽ không ai kìm được nước mắt khi giai điệu như thôi miên Bà mẹ Gio Linh qua giọng ca oán hờn “dựng tóc gáy” Thái Thanh:

Mẹ già cuốc đất trồng rau, nghe tin xóm làng kêu gào. Quân thù đã bắt được con, mang ra giữa chợ cắt đầu. Nghẹn ngào không nói một câu, mang khăn gói đi lấy đầu. Chiều về trên xóm buồn teo, xa xa tiếng chuông chùa ngân…

Cái lời ca ấy ám ảnh tôi, và tâm hồn non nớt lúc nhỏ tôi đã biết rưng rưng nước mắt khi nghe những lời ca: Nhưng mỗi khi dưới mái nhà đơn sơ, dừng chơi nắm tay mẹ hỏi rằng, rằng, rằng: Cha chúng con đâu, về mua bánh cho con, mẹ ơi! (Nhớ người ra đi). Những giai điệu vừa là dân ca, vừa không phải là dân ca, thoát thai từ những gốc rễ bình dị xa xưa, vừa mang đầy màu sắc hiện đại và tân kỳ. Phải nói chỉ có một mình ông, PD, là đủ tài năng để làm một công cuộc Phục sinh cho dân ca dân nhạc.

Những gì mà các tác giả sau này làm: Trần Tiến, Phó Đức Phương, Dương Thụ, Nguyễn Cường… chỉ là copy & paste lại dân nhạc, khó có thể gọi là “hồi sinh”. Trong số những tác phẩm của giai đoạn này, tôi đặc biệt yêu thích hai bài: Thu chiến trườngBên cầu biên giới. Đến bây giờ chủ đề ấy vẫn còn được lặp lại đôi khi, ai đó vẫn còn đặt câu hỏi: Đời tôi sao vẫn còn biên giới, lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây?. Cái âm giai La thứ huyền bí, vừa thiêu thiếu, vừa đầy đủ trong Thu chiến trường quả thật quá hấp dẫn, đặc sắc về mặt âm nhạc. Nghe Thu chiến trường tôi cảm giác như nghe một giai điệu bắc phương nào đó của vùng sa mạc, nghe không khí Biên tái của Đường thi trỗi dậy.

Mời các bạn nghe kỹ hai tác phẩm này, chỉ một vài lần thôi để cảm thấy cái “touch”, cái khẽ chạm của thiên tài. Bên cạnh những ca khúc làm rung cảm cả một dân tộc ấy, cùng một lúc, con người nghệ sĩ Phạm Duy vẫn loan truyền đi niềm vui sống, nét phơi phới yêu đời qua những giai điệu: Quê nghèo, Nương chiều, Gánh lúa, Về miền Trung, Tiếng hát sông Lô, Chinh phụ ca… Lại là phục sinh dân ca dân nhạc, nghe cũ đấy mà mới đấy, như một nguyên lý fractal đồng dạng vốn tiềm ẩn trong tất cả hủy diệt và tái tạo của cuộc sống.

Mẹ tôi đến giờ vẫn hay hát Quê nghèo: làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói, có những cánh đồng cát dài…, cái lời ca làm bà nhớ lại không gian một làng Vĩ Dạ xanh biếc như ngọc xưa, nơi nuôi bao kỷ niệm tuổi ấu thơ: nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười… Trong những bài ca viết cho quê hương ấy, PD đã lột tả chính xác đặc trưng của từng vùng miền, từ địa lý, khí hậu, giọng nói đến tâm hồn. Ít ai có được cái cảm quan tinh tế sâu sắc như ông. Ông là người đầu tiên đề cập vấn đề hệ ngũ cung Huế, nghe “lơ lớ” khác hẳn những hệ ngũ cung khác, và đã có những ca khúc phản ánh chính xác được những cảm nhận ấy. Trong số những tình ca quê hương này, ngoài Tình hoài hương mà tầm vóc của nó đã phổ quát, tôi còn rất yêu thích bài Về miền Trung. Cái giai điệu chỉ có thể thoát thai từ giọng nói, tâm hồn người xứ dân gầy ấy:

Đêm hôm nao gió u buồn trên sông vắng, có tiếng hát xao xuyến ánh trăng vàng. Người đi trên đống tro tàn, thương em nhớ mẹ hương vàng về đâu? Chiều khô nước mắt rưng sầu, tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi… Về miền Trung, còn chờ mong núi về đồng xanh, một chiều nao đốt lửa rực đô thành…

Qua những năm 50, nhạc sĩ Phạm Duy lại tiếp tục cho ra đời những nhạc phẩm vi diệu hơn nữa về nhạc thuật. Dáng nhạc, lời ca không kém phần mỹ miều, nhưng đã được mài giũa để trở nên đài các, sang trọng hơn. Giai đoạn này chủ yếu là những bài tình ca quê hương: Nụ tầm xuân, Tiếng sáo Thiên Thai, Tình hoài hương, Tình ca, Thuyền viễn xứ, Dạ lai hương, Bà mẹ quê, Lữ hành, Viễn du, Hoa xuân, Ngày trở về, Hẹn hò, Chiều về trên sông, Tiếng hò miền Nam

Chưa ai xưng tụng quê hương, vừa riêng tư, vừa phổ quát, thành công được như Phạm Duy. Riêng Tình ca phải được xem như một tuyên ngôn cho tiếng nói, cho con người Việt, một tuyên ngôn chan chứa yêu thương và tự hào (xem thêm bài về Tình ca trong một post trước của tôi). Một tác phẩm để lại trong tôi dấu ấn rất lớn là Thuyền viễn xứ. Lần đầu tìm nghe được, tôi đã nghe đi nghe lại suốt cả một ngày trời và tự nhủ với mình: từ nay mình được biết một loại âm nhạc mới. Từ đó tôi dần dần chuyển qua yêu thích các giai điệu ngũ cung huyền ảo. Một bản nhạc đặc biệt nữa mà tôi cũng rất yêu thích: Chiều về trên sông, nửa ngũ cung, nửa thất cung, bản nhạc được viết trên mode Dorian, lai lai gần giống hệ ngũ cung Oán của dân ca Nam bộ, gây cảm giác buồn, buồn nhưng thanh thản.

(Còn tiếp…)

phạm duy – 1

Tôi không tìm, tôi thấy!
(Pablo Picasso)

Hình nghệ sĩ PD, chụp trong chuyến hồi hương VN, 2006

Bao giờ biết tương tư – Tuấn Ngọc

Trả lại em yêu – Thái Thanh

hững bạn đọc blog tôi hẳn để ý dấu vết nhạc Phạm Duy (PD) có hầu hết khắp mọi nơi. Tuy vậy, tôi chưa từng viết một bài nào để nói về ông. Lý do đơn giản: cuộc đời và âm nhạc PD là một đề tài quá rộng lớn, tôi tự lượng hiểu biết của mình không đủ để mô tả về một con người Việt Nam mà lại có thể phong phú đến vậy. Những ai muốn hiểu về PD, tốt nhất là… xin dừng tất cả việc đọc lại ở đây, kể cả đọc bài viết này. Tư liệu trên internet về người nhạc sĩ vĩ đại này cũng khá nhiều, nhưng điều trước tiên cần làm là tìm và nghe ít nhất thì cũng vài chục, nhiều thì vài trăm nhạc phẩm của PD, để biết và hiểu ông từ khía cạnh ấy, trước khi đọc xem người khác viết những gì.

PD, ông được gọi là một người Việt Nam Việt Nam nhất. Hiểu theo nghĩa những gì tốt và xấu điển hình của người Việt Nam đều có đầy đủ và sống động trong con người ông. Vậy nên xin nhìn nhận ông như một con người bình thường như chúng ta, đừng đứng từ nhãn quan chính trị, tôn giáo, lịch sử, thậm chí là cũng đừng từ quan điểm tư cách đạo đức mà phán xét. Đến lúc này có thể nói một cách xác tín rằng ông là nhạc sĩ Việt Nam vĩ đại nhất qua mọi thời đại, và tầm vóc vượt lên trên hẳn những tên tuổi được đa số quần chúng tôn vinh hiện nay như Trịnh Công Sơn, Văn Cao. Tôi thường nghĩ nếu so sánh Trịnh Công Sơn và Phạm Duy, cũng như đem đom đóm so với trăng rằm. Phải xin lỗi những fan của nhạc sĩ họ Trịnh nhưng tôi không hề có ý đề cao hay hạ thấp ai khi nói vậy, chỉ cố gắng đưa ra một so sánh không khập khiễng.

Nếu chúng ta cần những ca từ uyên áo, trừu tượng, thì đó chính là nhạc sĩ TCS, nhưng nếu muốn nói đến âm nhạc (musique), xin hãy nhường cho PD. Từ lúc còn rất nhỏ, tôi đã nghe và hát nhạc PD mà không hề biết chúng là của ông: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ (Em Bé Quê), Tuổi thần tiên nép trong tay mẹ hiền, một dòng sữa thơm xa xưa còn truyền (Tuổi thần tiên), Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui, một đêm một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về (Xuân ca)… Lớn lên, lần đầu biết rung động, tôi lại hát nhạc ông mà vẫn chưa biết ông là ai: Hôm qua tôi đến nhà em, ra về mới nhớ rằng quên cây đàn (Cây đàn bỏ quên), Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi (Mùa thu chết), Trả lại em yêu, khung trời đại học, con đường Duy Tân, cây dài bóng mát (Trả lại em yêu). Cuộc đời làm cho đôi bên yêu nhau cách một biển sâu, hẹn hò gặp nhau thiên thu cho phong phú đời người sau… (Hẹn hò).

Tôi sẽ còn nhớ mãi một kỷ niệm khó quên trong đời, năm tôi học lớp 8, ngôi trường Trưng Vương yêu dấu, thầy Sinh, một thầy giáo của chúng tôi trước khi lên đường đi Mỹ, đã vào lớp kể cho lũ học sinh 13, 14 tuổi chúng tôi nghe về những điều: Các em đã đến tuổi biết, cần phải biết và cũng không nên che giấu. Rồi thầy kể chúng tôi nghe chuyện tình Quasimodo và Esmeralda (Thằng gù nhà thờ Đức Bà – Victor Hugo) và ôm đàn hát: Ngày nào cho tôi biết, biết yêu em rồi, ôm mối tương tư, ngày nào biết mong chờ, biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa. Cái tập thể lớp 8/6 ngày đó đã biết Bao giờ biết tương tư cũng là nhờ người thầy nghệ sĩ của chúng tôi.

Và còn rất rất nhiều ca khúc khác, người ta vẫn hát, từ giới bình dân lao động cho đến giới trí thức, học giả, vẫn hát đấy mà chưa hẳn đã biết đó là nhạc PD. Ông xem đó như một thành công, khi quần chúng truyền tụng tác phẩm của mình mà không cần nhớ đến tác giả. Có chuyện gần đây trên một chương trình của VTV3 phỏng vấn một cụ già trên 100 tuổi nhưng sức khỏe, trí nhớ vẫn còn tốt, người ta đề nghị bà hát những khúc nhạc mà bà còn nhớ, và bà đã hát một “bản dân ca bà được nghe lúc trẻ”: Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ hiền… (Nhớ người ra đi).

Sau này, tôi mới có đủ điều kiện để nghe PD một cách đầy đủ và có hệ thống, mới thấy cái gia tài âm nhạc kia thật quá vĩ đại, vượt xa, rất rất xa tất cả những nhạc sĩ Việt Nam khác không chỉ ở số lượng, mà còn ở chủ đề đa dạng phong phú, và đặc biệt là ở nhạc thuật tinh vi, biến hóa, đa dạng, nhiều màu sắc, nhiều phong cách, nhiều cảm xúc mới lạ, đến mức khó có thể nắm bắt hết được. Dưới đây, tôi xin mạn phép được “cưỡi ngựa xem hoa”, điểm qua một số tác phẩm và các giai đoạn sáng tác của PD. Và trong chừng mực có thể, tránh xa cái bối cảnh chính trị chia cách 2 miền đất nước, và tránh luôn cả đời tư “nasty” của tác giả. Xin các bạn lượng thứ cho quan điểm của tôi, nhưng cái câu hỏi vô lý nghệ thuật vì nghệ thuật hay nghệ thuật vì nhân sinh, đến nay tôi vẫn chưa trả lời được. Cái gì đã tạo nên một tâm hồn đa dạng phong phú đến thế, điều ấy đến nay tôi vẫn không thể tự lý giải, chỉ biết mượn lời của Picasso để nói về một thiên tài: Tôi không tìm, tôi thấy!

(Còn tiếp…)

cantopop

húa Nhật tuần trước, đi chơi một ván cờ vây giải sầu với bạn Minh tại café Tuấn Ngọc, tình cờ nghe được bài này. Xen giữa những phút suy nghĩ về thế cờ, thoang thoáng nghe ra cũng là một dáng nhạc hay. Mới nghe biết không phải là nhạc Việt, thoáng nghĩ là nhạc Latino, nghe kỹ một chút thì đoán là nhạc Hoa. Nhớ lại lúc trước, khi những đứa bạn cấp 3 của tôi rầm rập nghe Tứ Đại Thiên Vương, thì tôi, không đến nỗi không biết TĐTV là cái gì, nhưng bảo kể tên đủ 4 người thì tôi chịu. Đấy là tóm tắt kiến thức Cantopop (Cantonese popular music) của tôi vậy.

Về nhà liền online vào Google, tìm được hai video clip dưới đây, vừa nghe vừa lẩm bẩm: không ngờ thị hiếu âm nhạc mình lại có lúc xuống cấp như thế này, đã nghe nhạc Hoa, còn nghe thêm nhạc hải ngoại. Các bạn thứ lỗi cho cái định kiến cố hữu trong con người tôi, hai thứ nhạc đó từ xưa đến giờ chẳng mấy khi tôi lắng nghe. Các bạn kiên nhẫn chờ tôi vài lời giải thích. Lẽ cố nhiên, bỏ qua những định kiến ngôn ngữ, dân tộc, bất kỳ nền âm nhạc nào cũng có những điểm hay. Cantopop sản sinh ra rất nhiều ca khúc hay, đơn cử như bài này. Nhưng so với nhạc phương bắc, nhạc phương nam Trung Quốc có quá nhiều mùi… quân tử Tàu (đúng như nghĩa chúng ta hay dùng). Đã nghe nhiều nhạc bắc phương hay nên tôi có chút ác cảm với Cantopop.

Thứ đến là nhạc hải ngoại… Khi tôi còn nhỏ, ở những sân khấu trong nước, chỉ một cây organ được xem như “dàn nhạc”, thì nhạc hải ngoại với hòa âm phối khí, kỹ thuật hiện đại nghe khá ấn tượng. Nhưng cũng ngay từ lúc ấy, tôi đã nhận thấy, nhạc Việt hải ngoại như cây bị bứng khỏi gốc, ngày càng thiếu sinh khí, càng nặng về giải trí và nhẹ nghệ thuật. Những Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương… vốn cũng từ đất Việt này mà đi, nhạc của họ thời kỳ đỉnh cao nhất vẫn là lúc còn ở trong nước vậy. Hôm nay tạm bằng lòng với cái chất quân tử Tàu này một lúc vậy, suy cho cùng đó cũng là một thuộc tính của âm nhạc.

gió lạnh đầu mùa

Ngoài vườn, trời vẫn nắng. Giàn thiên lý pha xanh một bên tà áo trắng của Nga. Những búp hoa lý non và thơm rủ liền trong giàn, lẫn vào đám lá. Gạch mát và phủ rêu khiến Thanh nhớ lại hai bàn chân xinh xắn của Nga, ngày nào, đi trên đó. Hai bàn chân nhỏ, lấm tấm cát, để dấu tự ngoài ao trở về… Chàng đột nhiên mỉm cười, rồi hỏi: – Cô Nga có còn hay đi nhặt hoàng lan rơi nữa không? Nga cũng cười hơi thẹn: – Vẫn nhặt đấy. Nhưng không có ai tranh nữa. Nàng nhìn Thanh, nắng như tụ lại những hình ảnh tự bao giờ, và sẽ vuốt mấy sợi tóc mai ra một bên. Thanh thấy quả tim đập nhẹ nhàng. (Dưới bóng hoàng lan – Thạch Lam)

ằng năm vào độ sau ngày tựu trường, lũ học sinh chúng tôi biết rằng những ngày vàng ươm nắng này dài chẳng bao lâu, gió lạnh cuối thu sẽ tràn về. Cái cảm giác giao mùa, cũng như sự trông ngóng nó thật đáng yêu, hầu như chúng ta ai cũng sẽ nhớ tới nhà văn Thanh Tịnh: Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc… Riêng tôi, tôi đã không yêu Ngày khai trường (Thanh Tịnh) bằng Gió lạnh đầu mùa của nhà văn Thạch Lam. Đơn giản vì Gió lạnh đầu mùa chính xác là cái không gian của tuổi thơ tôi, cái không gian giản dị mà ấm áp, đẹp như những mãng màu-nguyên tranh Bùi Xuân Phái.

Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi. (Gió lạnh đầu mùa – Thạch Lam)

Cũng là cậu bé Sơn (trước khi mang cái tên bây giờ, tôi có cái tên khác là Bảo Sơn), cũng những mẫn cảm được gợi lại chính xác như trong truyện… Lớn lên một chút, tôi bắt đầu lang thang tìm hiểu về cái không gian mình đang sống: những đồi núi chập chùng, đẹp như mơ của vùng trung du Đại Lộc, những tháp Chàm vùng Bằng An, Bảo An, những vùng đất đá ong xưa nhiều ngấn lệ Mỹ Sơn, Duy Xuyên… Đi nhiều để mà cảm nhiều hơn, về những điều lẫn khuất bên dưới một không gian bấy giờ tiêu điều và nghèo đói.

Rồi tôi tìm ra chính xác rằng, cái không gian của Gió lạnh đầu mùa là ở Cẩm Phô, Hội An. Nơi gia tộc Nguyễn Tường với ba anh em nổi tiếng Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Nguyễn Tường Lân sinh sống. Không ít, nhưng cũng không nhiều người biết về ba anh em nhà Nguyễn Tường này: Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh, đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng; Nguyễn Tường Long tức nhà văn Hoàng Đạo (người bị Việt Minh thủ tiêu trong vụ án phố Ôn Như Hầu), Nguyễn Tường Lân tức nhà văn Thạch Lam, tác giả cuốn truyện của tôi. Ba anh em Nguyễn Tường, bên cạnh hoạt động chính trị, còn là những người thành lập nhóm Tự lực Văn đoàn lừng lẫy.

Sự nghiệp của gia tộc này thiết tưởng không cần phải nhắc đến nhiều. Ở đây, tôi chỉ muốn hồi tưởng lại cái không gian Gió lạnh đầu mùa của vùng Cẩm Phô, Hội An ngày nào. Cái không gian ấy thật lạ lùng, thô ráp như bao không gian xứ Quảng khác, vừa ẩn chứa nét tinh tế ngấm ngầm của phố cổ. Chỉ nơi ấy mới đẻ ra được những Gió lạnh đầu mùa, Nắng trong vườn và đặc biệt là những rung động xao xuyến của tình yêu thủa ban đầu Dưới bóng hoàng lan.

nhạc việt lời hoa

Nắng chiều – Lệ Thu

text=越南情歌&font=1&size=17&color=0000aa
text=作曲:黎重阮&font=2&size=17&color=555555
text=歌手:费玉清&font=2&size=17&color=555555

hạc Hoa lời Việt là điều quá ư bình thường, hôm nay xin mạn phép post một vài bài nhạc Việt lời Hoa. Hiểu theo nghĩa: là nhạc Việt nhưng được đặt lời Hoa và có phổ biến ở Hồng Kông, Đài Loan hay Trung Hoa lục địa. Lục tìm trong kho Tân nhạc Việt Nam, bằng trí nhớ mù mờ của mình, tôi được biết ít nhất hai bài hát Việt đã được đặt lời Hoa, được hát và thành công lớn ở Hồng Kông và Đài Loan. Và kỳ lạ là cả hai bài đều xuất phát từ địa danh Hội An, Điện Bàn, Quảng Nam. Một bài là Nắng Chiều của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, một nữa là bài Xuân và tuổi trẻ của nhạc sĩ La Hối. Bài hát được biết đến trong tiếng Hoa dưới cái tên rất chi đại khái: Việt Nam tình ca hay Nam hải tình ca. Ngay từ phần đầu tiên của lời hát, đã có thể thấy nó được dịch thoát từ lời Việt:

text=我又来到昔日海边&font=2&size=17&color=555555
text=海风依旧吹皱海面&font=2&size=17&color=555555
text=那样熟悉那样依恋&font=2&size=17&color=555555
text=只有旧日人儿不见&font=2&size=17&color=555555
 

Tôi lại tìm đến bến nước ngày xưa,
Gió cũng như năm nào lồng lộng thổi vào mặt.
Bóng dáng cũ vẫn còn in đậm trong tôi,
Nhưng người xưa nay đã không còn thấy nữa.

Nghe trong tiếng Việt hay Quan thoại, bài ca đều rất hay. Nắng chiều có dáng nhạc thật đặc biệt, vì có cả giai điệu ngũ cung và thất cung hòa quyện vào nhau. Tìm kiếm bằng tiếng Hoa thật khó (ít nhất là với người không quen như tôi), tôi chỉ tìm được một bản karaoke của phiên bản tiếng Hoa này. Bản đầy đủ (do ca sĩ chuyên nghiệp trình bày) và cả ca khúc Xuân và tuổi trẻ xin khất lại đến hôm khác (Update Jan 20, 2009: bản lời Hoa trên do ca sĩ Đài Loan Phí Ngọc Thanh – 费玉清 trình bày. Về lời Hoa bản nhạc Xuân và tuổi trẻ, xin xem post sau).

Hội An là nơi đã từng có cuộc sống văn vật rất phong phú, vì là nơi tụ hội của cả người Việt, người Hoa, người Nhật. Mẹ tôi thường kể rằng, ngày xưa mỗi sáng ở Hội An, ở những nhà buôn bán, chủ nhà đều cầm bàn tính (gọi theo từ địa phương là bàn-xáng) gõ nhịp và hát một khúc ca cầu mua may bán đắt đầu ngày. Hai ca sĩ nổi tiếng “dòng nhạc dân tộc”: Ánh Tuyết ở trong nước và Ngọc Hạ ở hải ngoại đều xuất thân từ Hội An. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng viết trong hồi ký rằng cư dân Hội An là những người tiếp thu và hưởng ứng Tân nhạc nồng nhiệt nhất, suốt trên Con đường cái quan ông đã đi từ Bắc chí Nam theo gánh hát Đức Huy.

Dư âm cuộc sống tinh thần phong phú ngày trước vấn còn lưu lại đâu đó, mỗi lần tôi về Hội An, vẫn đi trong lòng phố cổ cố tìm lại những hương xưa… Nhớ lại những Tết năm nào, xác pháo đỏ và xác mai vàng nhuộm những màu-nguyên toàn thị xã, những không gian tuyệt đẹp phía Cẩm Nam, Cẩm Phô và vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Tiếc rằng rất nhiều điều đã mai một (phố cổ thì ít, phố kệch cỡm giả cổ thì nhiều) chính trong cái lòng phố nửa thôn quê, nửa thành thị ấy.

đoàn lữ nhạc

Poster Đoàn lữ nhạc, NXB Cửu Long

Đoàn lữ nhạc – Ánh Tuyết

A ha, a ha! Hãy nhớ vết xưa tàn phá! Đâu, đâu? Ai biết lũ chim về đâu? A ha, a ha! Hãy cất tiếng lên cười phá! Dzô, dzô! Kìa những bóng chim hải hồ!

ó một từ, tiếng Anh là the troubadours, tiếng Pháp gọi là les troubadours, tiếng Việt thường gọi là người hát rong, du ca, lữ nhạc… Chỉ riêng một từ này mà hai đại nhạc sĩ Phạm Duy và Trịnh Công Sơn (và cả một số người khác) phải “đánh nhau” để dành lấy, từ trước 75 và kể cả về sau này. Một “danh hiệu” mà nhạc sĩ nào cũng ao ước đạt được, ai cũng nhận mình là kẻ du ca của dân tộc Việt, đi qua những nẻo đường đời lưu đày và kể lại những câu chuyện tai nghe mắt thấy.

Như ngày xưa Homère kể lại lịch sử thành Troie bằng hai trường ca Odyssée và Iliade. Mọi câu chuyện đều thường bắt đầu đại loại như thế này: để tôi kể bạn nghe câu chuyện, một lần một ngày kia, tôi đã đi qua và đã thấy…. Hình thức kể chuyện hát rong, từ xa xưa đã là một lối văn nghệ và lịch sử truyền khẩu, đến tận bây giờ vẫn là một đề tài đầy cảm hứng.

Có một nhạc phẩm ít người biết của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, mang tên Đoàn lữ nhạc. Trong những năm 1945 ~ 1975 ở miền Bắc, khi nhiệm vụ chiến tranh là trên hết, việc ra đời của Đoàn lữ nhạc quả là một điều kỳ lạ. Nói như một bài hát khác của nhạc sĩ Đỗ Nhuận: đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi, trong một giai đoạn như thế lại có lời ca: Ra đi khắp nơi xa vời, gió bốn phương kìa gió bốn phương ào ào cuốn lá rơi… Đâu, đâu? ai biết lũ chim về đâu. Sau này, những nhạc phẩm thế này đều được chọn lọc và biểu diễn trở lại. Tôi đã nghe biểu diễn bài này hai lần, một lần ở phòng trà ATB (Sài Gòn), một lần ở phòng trà Hợp Phố (Đà Nẵng), cả hai lần đều là những ấn tượng khó quên.

bến xuân

Bến xuân – Hà Thanh

huyện về ca khúc Bến xuân kể ra đây nghe như một giai thoại, nhưng lại là chuyện hoàn toàn có thật. Chuyện về mối tình giữa nhạc sĩ Văn Cao và người đẹp Hoàng Oanh. Một chương trình truyền hình, tôi quên mất là chương trình nào, phỏng vấn Văn Cao và Hoàng Oanh và kể lại mối tình giữa hai người.

Ngày ấy hai người yêu nhau, nhưng cùng yêu người đẹp Hoàng Oanh còn có ca sĩ Kim Tiêu và nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng), hai người bạn thân của Văn Cao trong ban nhạc Đồng Vọng nổi tiếng đất cảng Hải Phòng một thời. Nhưng khi cưới, nhà cô Hoàng Oanh thách cưới quá nặng, chỉ có một người đáp ứng đủ yêu cầu và cưới được người đẹp, đó là nhạc sĩ Hoàng Quý.

Cô Hoàng Oanh vì áp lực gia đình không thể làm khác, nhưng vẫn đến thăm Văn Cao một lần cuối, đó là nguyên lai lời ca: nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến tôi một lần… tới đây chân bước cùng ngập ngừng, mắt em như dáng thuyền soi nước…. Mối tình rất đẹp, đến nỗi làm lời cho ca khúc Bến xuân này, có sự tham gia của ít nhất hai nhạc sĩ tài năng là Văn Cao và Phạm Duy. Tôi trích đây lại nguyên văn lời tỏ tình thô mộc của nhạc sĩ Văn Cao: ước gì anh có em để hằng ngày em quạt cho anh sáng tác, em vá quần thủng cho anh, làm mẫu cho anh vẽ 😀 .

Mời các bạn nghe Bến xuân qua trình bày của Hà Thanh, muốn biết giọng Huế xưa như thế nào, có lẽ tốt nhất hãy nghe giọng ca ngọt ngào của ca sĩ Hà Thanh (nhất là bài ca Ai lên xứ hoa đào – Hoàng Nguyên).

ngày độc lập

gày này năm xưa, mùng 2 tháng 9, mẹ tôi còn nhớ lại, ông ngoại cõng mẹ tôi trên vai, lúc đó vừa hơn 3 tuổi, vừa đi tham gia biểu tình mừng ngày độc lập, vừa đi vừa hát: mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng… (Chiến sĩ vô danh – Phạm Duy). Những kỷ niệm về ông ngoại mà mẹ tôi còn nhớ mãi suốt đời, khi ông tôi ôm đàn mandolin hát những lời ca: đây An Phú Đông, ôi An Phú Đông, ngày nào quân đi reo bao hùng dũng… (An Phú Đông – Võ Đức Thu).

Chiến sĩ vô danh – Hùng Cường

Ông ngoại đã theo Việt Minh đi kháng chiến, nhưng về sau phải bỏ về vì nhà có gốc gác phong kiến và thực dân quá lớn. Lịch sử còn vương lại đâu đó trong từng gia đình. Một thời lý tưởng đẹp đẽ, người người đã cống hiến không tiếc những gì tốt đẹp nhất.

hồ trường

Hồ trường – Tôn Nữ Lệ Ba

 

text=南方歌曲&font=1&size=17&color=0000aa
text=丈夫生不能披肝折槛,&font=2&size=17&color=555555
text=为世扶纲常。逍遥四海&font=2&size=17&color=555555
text=,胡为乎此乡。回头南&font=2&size=17&color=555555
text=望邈无极兮,天云一色&font=2&size=17&color=555555
text=徒苍苍。立功不成,学&font=2&size=17&color=555555
text=不就,少壮有几辰兮,&font=2&size=17&color=555555
text=坐视百年身世驱阴阳。&font=2&size=17&color=555555
text=抚掌狂歌问斯世,茫茫&font=2&size=17&color=555555
text=天地,安得知一知己兮&font=2&size=17&color=555555
text=,试来对酌佑予觞。予&font=2&size=17&color=555555
text=觞掷向东溟水,东溟之&font=2&size=17&color=555555
text=水万队起狂澜。予觞掷&font=2&size=17&color=555555
text=向西山雨,西山之雨一&font=2&size=17&color=555555
text=阵何汪洋。予觞掷向北&font=2&size=17&color=555555
text=风去,北风扬沙走石飞&font=2&size=17&color=555555
text=殊方。予觞掷向南天雾&font=2&size=17&color=555555
text=,雾中有人开口一饮蘧&font=2&size=17&color=555555
text=然醉。天地宇宙浑相忘&font=2&size=17&color=555555
text=,予不醉矣,予行予志&font=2&size=17&color=555555
text=。男儿自古事桑蓬,何&font=2&size=17&color=555555
text=必穷愁泣枌梓。&font=2&size=17&color=555555

gâm thơ là một loại hình kết hợp giữa văn chương và ca nhạc, và là loại hình nghệ thuật tôi hoàn toàn không biết gì. Những điệu ngâm Sa mạc, Bồng mạc, ca trù, ngâm Kiều, Tao đàn… tôi hoàn toàn mù mịt, dù trong nhà từ nhỏ được không ít lần thưởng thức ngâm thơ. Xin post ở đây một bản ngâm thơ tôi được biết, cũng là bài ba tôi thường ngâm mỗi lúc cao hứng, ngà ngà say. Đây là một bài thơ rất có giá trị trong văn học sử Việt Nam cận đại, và câu chuyện về người tác giả (dịch giả) của nó cũng bị cố tình lãng quên, không mấy ai được biết đến!

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường, Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương. Trời Nam nghìn dặm thẳm. Non nước một màu sương. Chí chưa thành, danh chưa đạt. Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc? Trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát. Nghiêng bầu mà hỏi. Đất trời mang mang ai người tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu? Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn! Rót về Tây phương, mưa Tây phương từng trận chứa chan. Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá dương! Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say? Lòng ta ta biết, chí ta ta hay. Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, Hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Cũng lại là một người con của làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam, vùng đất địa linh nhân kiệt số một Việt Nam, Nguyễn Bá Trác tham gia phong trào Đông Du, trở về nước năm 1914, ông cùng Phạm Quỳnh duy trì tờ Nam Phong tạp chí. Sau đó, ông làm Tuần phủ Quãng Ngãi, rồi Tổng đốc Thanh Hóa, Bình Định. Ông bị Việt Minh xử bắn lúc họ cướp chính quyền, ở Huế năm 1945. Tên tuổi Nguyễn Bá Trác không được “chính sử” nhắc đến, nhưng chỉ nhờ vào một bài thơ Hồ Trường, cốt cách, chí khí con người ông vẫn còn được truyền tụng và ngưỡng mộ đâu đấy, như đại diện của một lớp “những người muôn năm cũ”.

Đến nay, đã có đủ cơ sở để tầm nguyên lời thơ Hồ Trường. Có thể đọc nguyên văn phần nghiên cứu của tác giả Phạm Hoàng Quân ở đây. Bài thơ Hồ trường – hóa ra lại là phần lời của một bài hát không tên, tạm gọi là Nam Phương ca khúc – được đăng tải trong thiên ký sự Hạn mạn du ký của tác giả Nguyễn Bá Trác trên Nam Phong tạp chí, phần chữ Hán (từ số 22 đến số 35, năm 1919 – 1920); sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong (từ số 38 đến số 43, năm 1920 – 1921). Nam phương ca khúc nằm ở chương 10 trong thiên ký sự này.

Vào khoảng năm 1912, khi lưu lạc ở Thượng Hải, tác giả gặp một người đồng hương cùng chí hướng, người này có giọng hát hay (giọng Quảng Đông). Một đêm nọ, hai người đi uống rượu. Rượu ngà ngà, Nguyên quân đứng dậy mà hát, ở bàn bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, được trả lời: Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam, họ Lưu nói: nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, nam phương mà có điệu hát đến thế ru? Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ xem.

Nam phương ca khúc là một bài ca ấy không rõ tựa đề, không biết tác giả, Nguyễn Bá Trác đã chép lại toàn vẹn trong Hạn mạn du ký. Và khi Hạn mạn du ký được sang chữ Việt thì lời ca này đã được dịch rất thoát, linh động nương theo âm điệu tiếng Việt và có chỗ thêm tứ có chỗ bớt lời, khéo giữ được cái thần thái hào sảng của nguyên tác để có được một bài Hồ Trường như chúng ta được biết. (Hình bên phải: phần lời Hán văn của Nam Phương ca khúc, in trong Nam Phong tạp chí).