my old Hue’s pictures

hese are the pictures I took some 10 years ago, when I was still an university freshman, wandering around and keep documents for everything, everyplace I go. Yesterday, looking back on the old films, they had degraded greatly in quality due to time and bad preservation. I scanned the films to digital form to save them and managed to scan from the printed photographs. You can have a look here and compare their quality. Feel like part of my souvernirs has been ruined with time 🙁 .

a Japan that can fail

ave you ever asked yourself why 80 percent of software projects fails, why there’s so much argues and debates in our IT community? If you have the courage to look deeply into yourself, to see our nature and the nature of the IT field, you would figure out things quite easily. Pity that most people can not do this. I read the article below for quite some times. It’s idea is quite straight-forward, however, I made a Vietnamese translation for one who still can not get it.

Bạn thân của bạn muốn nói với bạn một số điều mà anh ta biết có thể làm bạn đau. Cả hai cùng đến một câu lạc bộ riêng tư nào đó, nơi không ai khác nghe thấy được. Anh ta không muốn nói một chút nào, nhưng là một người bạn tốt anh ta phải nói. Sau một vài ly, câu chuyện sau đây được kể.

CÂU CHUYỆN MỘT NƯỚC NHẬT CÓ THỂ THẤT BẠI

Đối diện những đe dọa đau đớn của sự hủy diệt, các nền văn hóa thường từ chối tự nhận chân chính mình. Họ rút lui vào một xó xỉnh nào đó, bày tỏ thái độ bàng quan, và tìm kiếm an ủi trong những huy hoàng của dĩ vãng. – Fouad Ajami – The New Republic 8/91.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nước Mỹ thống trị kinh tế toàn cầu, hơn bất kỳ thế lực nào khác đã (thậm chí là sẽ) làm được. Dù cho các doanh nghiệp Mỹ tin rằng điều này sẽ kéo dài mãi mãi, đó thực sự là một trạng thái không tự nhiên, các doanh nghiệp ngày càng trở nên nặng nề và lười biếng.

Lấy thí dụ điển hình là công nghiệp ôtô. Vào lúc người Nhật bắt đầu xâm nhập và cạnh tranh trên trị trường này ở Mỹ, thì các doanh nghiệp Mỹ đã trở nên quá thiếu hiệu quả và ngại thay đổi. Điều này khiến người Nhật nhanh chóng chiếm lĩnh những phân khúc lớn của thị trường. Các công ty Mỹ đã quên kỹ năng cạnh tranh trong một thời gian.

Tuy vậy, người Nhật phát triển được nền kinh tế siêu cường của họ, phần lớn dựa vào các ưu điểm của văn hóa Nhật Bản hơn là dựa vào thực tế công nghiệp sản xuất ôtô Mỹ lúc đó đã quá cồng kềnh và kém hiệu quả. Và người Nhật cũng bắt đầu tin rằng sự thống trị của họ trong một số ngành công nghiệp là tự nhiên và sẽ kéo dài mãi.

Còn nguy hiểm hơn, họ cho rằng, áp dụng các phương pháp, công thức Nhật Bản vào các ngành công nghiệp khác sẽ mang đến thành công tương tự. Cuộc sống sẽ là quá dễ dàng nếu chỉ là như thế. Hầu hết doanh nghiệp Nhật Bản còn tin chắc rằng cứ kiên trì phương pháp của mình, sớm hay muộn họ sẽ thành công.

Đây là khởi đầu cho câu chuyện nước Nhật có thể thất bại. Lấy ví dụ trong các sản phẩm mang tính nghệ thuật (phim, đĩa nhạc, phần mềm…) nước Nhật không đóng một vai trò đáng kể nào. Các công ty Nhật có thể mua lại các công ty Mỹ, và thuê người Mỹ làm ra các sản phẩm Mỹ, để bán trên toàn thế giới, nhưng thực sự số lượng sản phẩm xuất khẩu này rất ít. Nhật Bản không thực sự là một tay chơi lớn trên loại thị trường này.

Vấn đề không phải là người Nhật đã không thử. Hầu hết đều nhận ra là làm phần mềm có lãi hơn là phần cứng. Trong thời đại kinh tế thông tin, lãi sinh ra từ các băng đĩa VCR thì ít, mà từ các phim ảnh ghi trên đó thì nhiều.

Vấn đề cũng không phải là họ thiếu những con người tài năng. Một đất nước sản sinh ra được những Yukio Mishima và Akira Kurosawa là đã có đủ những nguyên liệu thô cần thiết để sản sinh những tài năng xuất chúng của thế giới. Nhưng liệu những người như thế có làm việc cho các công ty Nhật không, hay các công ty Nhật có thuê những người đó hay không? Ngày nay, không có chỗ cho Soichiro Honda, người chưa từng tốt nghiệp trung học giữa những nhân sự tất cả đều tốt nghiệp đại học Tokyo và cũng xin vào một vị trí thử việc.

Vấn đề thực sự ở đây là người Nhật xem phần mềm như một ngành kỹ nghệ. Hầu hết các công ty lớn của Mỹ cũng mắc phải sai lầm này, đó là lý do chỉ một số ít công ty lớn của Mỹ thành công về phần mềm (trừ trường hợp của Microsoft, những công ty thành công là những công ty vừa và nhỏ về nhân sự).

Phát triển phần mềm có hai đặc trưng cơ bản khiến nó có tính nghệ thuật hơn là khoa học. Thứ nhất là quá trình thiết kế phần mềm. Phần mềm sẽ tương tác với người dùng như thế nào, và làm sao làm được điều đó? Quá trình thiết kế vừa tiếp diễn, vừa tập trung tại mọi công đoạn. Ngày hôm qua là thiết kế trên nền DOS, hôm nay đã là Windows. Từng ngày một trong quá trình phát triển đều có những quyết định mang tính thiết kế, dù nhỏ, dù to. Bạn không thiết kế phần mềm để rồi sau đó viết một cuốn sách về nó.

Cũng giống như làm phim, bạn không thiết kế đến từng chi tiết rồi sau đó tiến hành. Đạo diễn, người quan trọng nhất của một cuốn phim không thực sự làm việc cho đến khi bắt đầu bấm máy. Đến lúc đó, từng diễn viên mang phần đóng góp trên vai của mình vào cuốn phim, và quá trình thiết kế tương tác và tiếp tục suốt quá trình làm phim. Chỉ một diễn viên, hay đạo diễn tồi có thể làm hỏng bộ phim, cũng như cách một lập trình viên kém làm hỏng toàn dự án.

Đặc tính thứ hai của phát triển phần mềm là: quá trình giải quyết vấn đề cần đến những cải tiến liên tục. Mỗi ngày lại có một lập trình viên nào đó có một cách tốt hơn để giải quyết vấn đề. Nếu bạn cứ phụ thuộc vào những phương pháp cũ, phần mềm của bạn sẽ lạc hậu rất nhanh chóng. Một đối tượng hiển thị phông chữ cố định (fixed font) sẽ không được dùng (cho dù bạn test nó nhiều như thế nào) nếu mọi người đều muốn dùng phông chữ tỉ lệ (proportional font). Máy tính cũ hơn 5 năm sẽ bị vất đi ở Mỹ cùng với các phần mềm đi kèm với nó.

Và điều quan trọng là: cải tiến và sáng tạo không xảy ra trên dây chuyền sản xuất. Nó không xảy ra vào một giờ cố định trong ngày. Nó không xảy ra khi lệnh và sự vâng lời được xem trọng hơn là ham muốn tạo ra một sản phẩm nổi bật.

WEB BẰNG THÉP KHÔNG RỈ

Khi tự tin thoái lui, ngờ vực ngự trị. Khi ngại khó, “ti mít” chiếm thượng phong, thì trí tượng tượng, sự chủ động mà mọi công ty cần có để giữ vững tốc độ tăng trưởng bị thách thức bởi những xoi mói, phê bình ác ý. Đây là nguyên nhân khiến cho các công ty trở nên tê liệt và thụ động, ngay cả khi đã có được đồng thuận về vấn đề, về những hành động cần có, và ngay cả về những thay đổi cần thiết. Khi đó, một đề nghị thay đổi sẽ bị kẹt cứng trong một mạng lưới (web) bằng thép không rỉ, cơ hội tồn tại của nó trước những kẻ bàng quan thờ ơ thật quá xa vời. – John Walker – The Final Days, Autodesk, Inc. Information Letter #14

Các công ty Nhật Bản cần phải tự thay đổi. Câu hỏi không phải là phát triền phần mềm theo cách nào?. Không có câu trả lời tường minh nào cho điều đó, tuy vậy, chỉ cần có một thay đổi toàn diện và triệt để trong cách quản lý công ty. Tôi không muốn lặp lại những gì đã viết trước đây (bài Software Design, tháng 11, 1991). Điều quan trọng là vất bỏ phương pháp công xưởng, nhà máy ra khỏi quá trình phát triển phần mềm. Thay vào đó, bạn tạo các nhóm nhỏ độc lập, mỗi nhóm có cách của riêng mình. Bạn sẽ chọn lọc và thay thế các cách cũ bằng những cách tốt hơn. Và mỗi nhóm được tự do đi theo cách của riêng mình, miễn là nó hiệu quả.

Những quy luật cũ, dù tường minh hay ngấm ngầm đều phải được bỏ đi. Cá nhân là quan trọng hơn nhóm, nhóm là quan trọng hơn cả công ty. Mỗi cá nhân đều được khuyến khích SÁNG TẠO. Khi mỗi cá nhân đi lệch một chút trên hướng đi của họ, ý tưởng mới sẽ nãy sinh. Và mỗi người giải quyết một mảnh của vấn đề, công việc được giải quyết theo một cách mới và tốt hơn.

Các công ty Nhật vẫn có thể là những tay chơi lớn vì dù xu hướng cá nhân trong văn hóa Mỹ rất mạnh, điều đó lại không phổ biến trong lĩnh vực phần mềm này. Tôi đã gặp một vài lập trình viên Nhật Bản, khi đi phỏng vấn ở Nhật và ở MSKK (chi nhánh Nhật của Microsoft). Hầu hết những người này, nếu xét riêng, cũng giỏi như những nhân sự giỏi nhất ở Mỹ. Họ đáng được cho những cơ hội được làm việc như những lập trình viên, vì với những người đó, sáng tạo là một phần thưởng cá nhân quan trọng hơn nhiều so với phải làm việc trong một môi trường nhà máy.

Cũng như các công ty ôtô Nhật đã nhận ra rằng nhân sự Mỹ thật sự tốt và đã mở các nhà máy ở Mỹ, các công ty phần mềm Mỹ cũng sẽ nhận ra những tài năng tiềm ẩn trong những nhân sự Nhật Bản và mở những trung tâm phát triển phần mềm ở đây.

Tuy vậy, ngồi không mà không làm gì tiềm ẩn những hiểm họa lớn. Nhật Bản sẽ vẫn còn phụ thuộc Mỹ ở những công nghệ phần cứng cốt lõi nhất. Giải quyết những vấn đề này sẽ phải vi phạm một vài nguyên tắc cơ bản nhất của văn hóa Nhật. Với một số người, cái chết là lựa chọn tốt hơn so với việc đánh mất danh dự.

Nghệ thuật cũng phy lý tính như là âm nhạc. Nó điên khùng trong vẻ đẹp riêng của nó – George Jean Nathan (1882-1958)

PHẦN KẾT

Kết thúc những lời này, người bạn tốt nhìn vào chính bạn. Anh ta hy vọng là những lời nói dữ dội này không ảnh hưởng đến tình bạn giữa hai người. Điều quan trọng là anh ta hy vọng bạn sẽ nhìn nhận sự thật này trước khi quá muộn. Vì thường thì khi vẫn đề đã trở nên rõ ràng không chối cái được nữa, thì cũng là lúc đã quá muộn để sửa chữa.

 

Your best friend needs to tell you something that he knows will pain you greatly. The two of you go to your private club and you sit where no one else can hear you. While your friend’s greatest wish is to not talk about this, he knows that as a true friend he must tell you what he believes. So over drinks he tells you of a problem that he thinks affects your entire future. This is what he tells you.

A JAPAN THAT CAN FAIL

On pain of extinction, cultures often stubbornly refuse to look into themselves. They retreat into the nooks and crannies of their perceived history, offer up the standard evasions, fall back on the consolations they know. Fouad Ajami in The New Republic 8/91.

Shortly after World War II, the United States dominated the world economy more than any other country ever has (or probably ever will). Although businessmen in America came to believe that it would continue indefinitely, this was an unnatural state of events and many of our industries became fat and lazy.

The American automobile industry is a prime example. By the time Japanese companies started competing in America, the American companies were so inefficient and resistant to change that the Japanese companies quickly captured a large segment of the market. The American companies had forgotten how to compete.

Japan took its economic accomplishments as a sign of its superior culture rather than a sign of fiercely competitive companies taking on some rigidly structured, inefficient American car manufacturers. As with America after WW II, Japan is starting to believe that its dominance in certain industries is a natural state of events that will continue indefinitely.

Even more dangerous, many Japanese believe that by applying the Japanese method to any industry, they will be able to dominate it too. Life would be so easy if it were so. Unfortunately, when the Japanese method is applied to industries like software it fails. Even more unfortunate, most Japanese companies convince themselves that if they continue to use the same old methods, sooner or later they will succeed.

This is the Japan that can fail. In the world markets for artistic products (movies, records, software, etc.), Japan isn’t even a player. Yes, Japanese companies can buy American companies that hire American workers in America to create American products that sell all over the world; including Japan. However, I doubt that Japan’s exports for these types of products are greater than that of any single European country. This is a market that America totally and unequivocally dominates and Japan isn’t even a player.

This isn’t for lack of trying. Most Japanese companies realize that its more profitable to write software than to build hardware. In the information age, economic power won’t come from building the VCR. It comes from producing the movies on the tapes.

The problem isn’t for lack of qualified people. A country that produced a Yukio Mishima and Akira Kurosawa has the raw talent to produce some of the greatest artistic efforts in the world. However, does anyone think either of these people could ever have worked for a modern Japanese company? Or that a Japanese company would hire them? Where is there room for a Soichiro Honda who never graduated from high school among all of the graduates from Tokyo University competing for entry level jobs?

The major problem is that Japanese companies treat software development as engineering. (Most large American companies make this same mistake which is why you see very few large companies even in America successfully producing software.) Unfortunately, object-oriented programming gives the factory approach a whole new way to become even less efficient. Software companies can now produce object after object and document each one so that someone else can find it and use it.

The problem is that people are now spending a lot of their time documenting their objects and searching for other objects. And when you do find an object, it usually turns out that it’s not quite what you wanted anyway. And finally, even when objects give you what you want, your core problems haven’t been eliminated.

Software development has two basic characteristics that make it an art. The first is the design process. How is the software going to interact with the user and what will it do? This design process is ongoing and occurs at every stage of development. Two years ago programs were written for DOS. Now they are written for Windows, which requires a totally different design. Virtually every day of programming includes design decisions; some big, some small. You do not design and then write a book.

You do not design to the last detail and then shoot a movie. The director of a movie is considered to be the single most important contributor to a movie yet they are generally not involved until the shooting arts. Each actor & actress brings their own interpretation of their character to the movie, creating an ongoing design of the movie. In the same way, just as a bad actor or director can ruin an otherwise great movie, one bad programmer can ruin an otherwise good program.

The second basic characteristic is that problem solving requires constant innovation. Every day some developer somewhere comes up with a better way to solve a problem. If you continue to depend on existing methods, pretty soon your software is so outdated that no one will use it. An object that only displays a fixed font is of no use, no matter how well tested, in a world that now requires proportional fonts. Computers that are five years old are being thrown out in America as useless and the same should be happening with almost all code written that long ago.

Constant innovation and creativity don’t happen on an assembly line. They don’t happen during certain hours of the day. They don’t happen when concensus and order are more important than creating an exceptional product.

THE STAINLESS-STEEL WEB

When self-confidence fails, caution rules. When timidity and unrestrained risk-aversion gain the upper hand, the kind of imaginative and bold initiatives that companies must make in order to sustain their rapid growth are forced to run a gauntlet of analysis and criticism that no suggestion, no venture not already proven successful, has a chance of surviving. This is the source of paralysis, why companies fail to act even when there is, within the company, a broad concensus that problems exist, action is needed, and even agreement on the nature of the changes required. Even then, each specific recommendation finds itself stuck in a stainless-steel web; the chances of it surviving all the individual sign-offs needed to be implemented are remote. – John Walker in The Final Days, Autodesk, Inc. Information Letter #14

The world is changing today. Russia has become one of the greatest capitalists of all with its offer to sell the Kurile Islands back. Who would ever have thought that Russia wouldn’t care if Japan gets the islands back as long as they get as much money as possible for them. For the last quarter, Microsoft’s profits were almost as great as those of IBM; a company with 40 times the number of employees. What worked yesterday is no guarantee for tomorrow.

Japanese companies need to change too. The answer isn’t to find a Japanese way to develop software, its to use they way that works – steal it from America. There is no great secret to how to effectively develop software, however, it does require a complete change in how Japanese companies manage software development.

I don’t want to repeat what I have written earlier (see the article in the November 91 issue of Software Design) but essentially the factory needs to be thrown out of the software development process. To replace it, you create small independent teams that will each develop in their own way. You will replace one method with many methods. And each group is totally free to try any way they want – as long as it works.

The old rules, both explicit and implicit must be cast off. The stainless-steel web must be destroyed. Concensus and deliberation no longer dominate. The individual becomes more important than the group. The group becomes more important than the company. Each individual is encouraged to CREATE. And as each developer goes off in their own direction something wonderful starts to happen – new ideas come in. As people solve each part of a problem, it’s done in new and better ways.

Japanese companies can be a major player in the world software market. While the American culture has an advantage with its emphasis on individuality, it’s not an overwhelming one. I met a number of Japanese programmers, both when I was interviewed for a job managing developers in Japan and developers from MSKK (Microsoft’s Japanese subsidiary). Most of these are people who, if let loose, could be the equal of the best in America. Moreover, these people should be given the opportunity to be developers. For most people, creating is much more rewarding personally than working in a factory environment.

Just as Japanese car companies discovered that there is nothing wrong with the American worker and opened plants in America, American software companies will discover the talent hidden in Japanese developers and open software development centers in Japan.

The risks of not acting are great. Japan will be dependant upon American companies for the brains in their hardware. Solving this problem requires violating some basic tenets of Japanese culture. To some, death may be preferable to dishonor.

Great art is as irrational as great music. It is mad with its own loveliness. – George Jean Nathan (1882-1958)

THE END

After he has finished your friend looks at you. He is hoping that speaking this bluntly did not hurt your friendship. More importantly, he hopes that you will see the truth before it’s too late. Because by the time a problem is inescapably obvious, it’s usually too late to rectify it.

BXP museum

have been loving BXP’s paintings for long but didn’t know that there is a private museum for his life & work right here in HCM city. Address: 357/2 Nguyễn Trọng Tuyển, Tân Bình district. It’s wonderful to come and adore the master pieces in closed – quarter. Then when I came across one of his painting, I recognized it immediately ! Yes, he painted my place!

You may not remember it, in images, the charming blue mountain ridge, the white flowers that were once everywhere on the hills. But you know, by your ears, the rhythm of waves, the murmur of winds will forever remain remembered in your once childish mind… Here, the painter observed the Sơn Trà mountain from Mỹ Khê beach, he did the painting sometime between July, 08th and August, 30th, 1981 in Đà Nẵng. I attach a picture of the mountain here… for one who’d remembered, you’ll recognize the painting immediately! Things change, people changes, there’s no sail boats anymore… but shape of the mountain and my memory remains untouched with time…

My little art work (done with Photoshop), which shows a very typical ethnical facial properties!


lời xin lỗi quá khứ muộn màng

Em đi trong mưa cúi đầu nghiêng vai,
Người con gái mới mười chín tuổi.
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi,
Bóng chúng đè lên số phận từng người.
Em cúi đầu đi mưa rơi,
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót.
Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.

(Nhất định thắng – Trần Dần)

rong các tác giả đạt giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước năm nay, có tên bốn người đặc biệt, bốn người được Chủ tịch nước ký quyết định tặng thưởng riêng, không có trong danh sách đề cử của Hội Nhà văn: Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán và Lê Đạt. Chỉ hai người còn sống để ghi nhận sự kiện này là nhà thơ Hoàng Cầm và Lê Đạt. Lật lại vụ án Nhân văn – Giai phẩm năm xưa, bút mực đã viết nhiều. Đày đọa cả một đời người, biết bao nhiêu là đau đớn! Cũng chỉ là một lời xin lỗi muộn màn và không chính thức trước quá khứ!

Lời mẹ dặn – Phùng Quán

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi. Mẹ tôi thương con không lấy chồng. Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ, Ngày ấy tôi mới lên năm, Có lần tôi nói dối mẹ. Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn. Ôm tôi hôn lên mái tóc. – Con ơi trước khi nhắm mắt. Cha con dặn con suốt đời. Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi, chân thật là gì? Mẹ tôi hôn lên đôi mắt. – Con ơi một người chân thật. Thấy vui muốn cười cứ cười. Thấy buồn muốn khóc là khóc. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều. Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết. Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi: – Bé ơi, bé yêu ai nhất? Nhớ lời mẹ tôi trả lời: – Bé yêu những người chân thật. Người lớn nhìn tôi không tin. Cho tôi là con vẹt nhỏ.

Nhưng không! những lời dặn đó. In vào trí óc của tôi. Như trang giấy trắng tuyệt vời. In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi. Đứa bé mồ côi thành nhà văn. Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm. Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ. Người làm xiếc đi dây rất khó. Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn. Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều. Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết. Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật. Chân thật trọn đời. Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi. Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã. Bút giấy tôi ai cướp giật đi. Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

the vietnamese & american conscience

text=一向逢春得健行&font=2&size=17&color=555555
text=行当无念亦无诤&font=2&size=17&color=555555
text=心灯若照其元体&font=2&size=17&color=555555
text=妙法东西可自成&font=2&size=17&color=555555

…I think we have the Statue of Liberty on the East Coast, but in the name of freedom, people have done a lot of damage. I think we have to build a Statue of Responsibility on the West Coast in order to counter-balance…

reviously in one of my post, I’d mentioned about Nẻo về của ý – a writing of Thích Nhất Hạnh. The monk has become a big figure in Buddhism community, at least as seen by Westerner. He is now considered to be one of the two most influential leaders of Buddhism, beside the famous Dalai Lama.

Originated from Từ Hiếu, the most ancient pagoda in Huế, his life has been a realization of what had been fore-told as a kind of prophecy in the hand-down poem from his own master (the last two lines on the right – which could be literally translated as: If the lamp of our mind shines light on its own nature, Then the wonderful transmission of the Dharma will be realized in both East and West. Recently, he gave a talk at the (US) Congress, let have a listen, the talk is interesting, nevertheless it has some real impact or not:

tết

ăm, bảy năm gần đây, bài hát này âm thầm trở lại, không chính thức được phép (và cũng có thể không bao giờ được phép, vì những ca từ như: Nhấc cao ly này, hãy chúc ngày mai sáng trời tự do…), nhưng người ta vẫn hát trong hầu như mọi đám cưới, các dịp lễ lạt, năm mới… Sau bao nhiêu năm, đã đến lúc có thể bỏ qua những yếu tố chính chị, chính em để chọn bài này xứng đáng là bản nhạc xuân hay nhất trong tất cả các bài nhạc xuân Việt:

  Ly rượu mừng – Hợp ca Thăng Long

Bạn hỡi, vang lên, lời ước thiêng liêng. Chúc non sông hoà bình, hoà bình. Ngày máu xương thôi tuôn rơi. Ngày ấy quê hương yên vui. Đợi anh về trong chén tình đầy vơi.

Nhấc cao ly này, hãy chúc ngày mai sáng trời tự do. Nước non thanh bình, muôn người hạnh phúc chan hoà. Ước mơ hạnh phúc nơi nơi, hương thanh bình dâng phơi phới.

year end blue

Without music, life would be a mistake!
(Nietzsche)

Ragas in Minor scale – Ravi Shankar

ever has this German philosopher’s words rang true like this year end! Year end’s blues! I’m spending most of my time listening to Ravi Shankar’s ragas… the co-operation between sitar (Indian guitar), tabla (Indian percussion), surbahar (Indian bass guitar) and few other instruments… Splendid !!!

Let listen to Ravi Shankar in this East meets West – Ragas in Minor scale (cowork with Philip Glass – Passages album – 1990)

Unlike Western conventional music, Indian traditional music does not base on harmony and chord, but rather bases directly on melody & rythm as the rawest elements. While the songs might sound a bit exotic to me, it’s truer and nearer to my nature of vibration (compared to the now everywhere-spreading comtemporary pieces).

About some of Ravi Shankar’s works:

  • Extensive music for films and ballets in India, Canada, Europe, and the United States.

  • 14 honorary doctorates, 3 Grammy awards, and various national awards.

  • Candidate for Peace Nobel Prize.

  • 3 children – 3 famous artists: Shubhendra Shankar, Anoushka Shankar, and Norah Jones (Shankar).

The man’s music brought him to the position described as human being of the highest class!

lục bát việt nam – nhìn từ góc độ âm nhạc

hiều khi một quan điểm đứng từ phía đối nghịch, nghe thật ngỗ ngược và vô lý. Nó nghe có vẻ vô lý ngay từ cách đặt vấn đề cho đến các kết luận rút ra. Nhưng đôi khi tự đặt mình vào những vị trí như thế mới có thể hiểu vấn đề từ đủ các góc độ khác nhau, để rồi có cái nhìn chính xác hơn về mọi việc. Bài viết trích dưới đây đã xuất phát từ một cái nhìn như thế, nhìn về thể thơ lục bát truyền thống Việt Nam từ góc độ tiết tấu của âm nhạc. Bài này đọc đã lâu, giờ xem lại mới thấy ý kiến của tác giả có nhiều phần chính xác.

BÀN VỀ LỤC BÁT VÀ CA KHÚC VIỆT NAM (Phạm Quang Tuấn)

Lục bát là thể văn vần căn bản trong ca dao và nhiều tác phẩm văn chương khác của Việt Nam, và thường được gọi là quốc hồn quốc túy Đoạn văn sau đây (từ VHNT) tôi cho là tiêu biểu cho lối văn tán lục bát:

Hãy thử nghĩ về dòng thơ lục bát. Dòng sông thơ mộng chảy luân lưu và phổ thông nhất của thi ca Việt Nam. Lục bát thấm vào máu, vào ca dao, vào lời ru, vào câu hò của văn học Việt Nam, và không một nhà thơ nào không ghé đến tắm thử trên dòng sông này một lần, nhiều lần, có khi ở lại, có khi bỏ đi, hoặc đi rồi trở lại nhiều lần, như cuộc hẹn với người tình trăm năm còn lưu luyến mãi…

Những lời tán tụng say mê như vậy tôi đã đọc nhiều và tôi tự hỏi tại sao lục bát lại chiếm một vai trò quan trọng trong thơ Việt Nam như vậy? Và, vì là một người yêu nhạc, tôi muốn biết lục bát có ảnh hưởng gì lên nhạc Việt Nam… Trước hết xin xem xét các dặc điểm về âm điệu của lục bát:

1.     Dùng số chẵn âm tiết (syllables). Thơ Tàu thường dùng 5 hoặc 7.

2.     Hai câu lục bát tạo thành tế bào căn bản (unit cells). Không có cấu trúc nào ở tầng trên đơn vị này, ngoài sự móc nối (interlocking) 2 vần ở câu bát.

3.     Vần luôn luôn là âm bằng, tức là chỉ có thể có một trong hai âm vần.

4.     Mỗi vần chỉ dùng ở 2 câu, thay vì 3, 5 hoặc hơn trong thơ Tàu, Tây, và do đó luôn luôn thay đổi trong một bài thơ dài.

5.     Vần chen vào trong câu để móc nối những couplets.

6.     Số kết hợp khác nhau (combinations) rất ít ỏi vì hai vần ở câu bát phải khác dấu: huyền – ngang hoặc ngang – huyền (không có ngang – ngang hay huyền – huyền). Nói nôm na thì phải hoặc là TÌNH TÍNH TANG hoặc là TANG TÍNH TÌNH:

        Trăm năm trong cõi người ta,
        Chữ tài chữ mệnh vốn TÌNH TÍNH TANG
        Trải qua một cuộc bể dâu,
        Những điều trông thấy mà TANG TÍNH TÌNH

Vần ở câu lục có thể huyền hoặc ngang, cho ta tổng cộng là 4 kết hợp.

7.     Nhịp cũng rất đều đặn, luôn luôn đi theo nhịp nhẹ – mạnh (n – M – n – M – n – M, n – M – n – M – n – M – n – M). Cuối 2 câu luôn luôn là 1 nhịp mạnh. Sự thực thì nếu cộng 2 cái nghỉ (rest) ở cuối câu lục thì nhịp lại càng cứng và đều đều buồn tẻ hơn nữa:

        ta ĐA ta ĐA ta ĐA (nghỉ nghỉ)
        ta ĐA ta ĐA ta ĐA ta ĐA

Nếu phải nghe cái nhịp đều đều này mấy ngàn lần liên tiếp trong một tác phẩm lục bát dài thì quả là 1 cực hình! …

… Trở lại lục bát, vì cách cấu trúc như vậy nên lục bát rất ít thay đổi. Vì vần luôn luôn là âm bằng nên lục bát có 1 âm điệu êm ả, ru ngủ… Cái vần bằng này được củng cố bằng tính chẵn và sự đều đều của nhịp: nhẹ mạnh, ắc ê, một hai, không có nhịp lẻ.

Vì mỗi cặp lục bát luôn luôn kết thúc ở nhịp mạnh âm bằng nên gây cho ta một cảm tưởng đã chấm dứt (finality), không thể dùng âm điệu hay nhịp để dựng lên một sự căng thẳng rồi dần dần đưa đến giải quyết. 1000 câu lục bát thì có 500 câu hỏi và 500 câu trả lời, chứ không thể có 1 câu hỏi lớn, đưa đến tranh chấp dài hơi, đưa đến 1 sự giải quyết mãnh liệt ở cuối. Về mặt âm điệu (xin nhấn mạnh tôi không muốn nói về những khía cạnh khác ngoài âm điệu), truyện Kiều là mấy ngàn mô đất nhỏ đứng cạnh nhau chứ không phải là 1 rặng núi lớn. (Tiện đây tôi cũng lấy làm lạ rằng hình như Việt Nam là nước duy nhất mà tác phẩm lớn của dân tộc lại được dùng vào việc ru ngủ, và có nhiều nhà phê bình văn học lại hãnh diện về chuyện đó)

… Một thể thơ như vậy, nếu coi là quốc hồn quốc túy thì sẽ cho ta thấy cái gì ở con người Việt Nam? Đó sẽ là 1 dân tộc không thích mạo hiểm, không thích cấu trúc lớn, mà thích an phận với những cái tầm thường, chóng giải quyết. Không thích hỏi câu hỏi lớn, xa xôi và tốn thì giờ đi tìm câu trả lời. Không thích sự căng thẳng mà thích giải quyết vội vã, chóng vánh, dễ dãi. Không thích sự đa dạng, bất đồng, bất định (uncertainies) mà thích cái gì cũng vào 1 số nhỏ khuôn mẫu nhất định. Không thích cái xáo trộn của vần trắc mà luôn luôn tìm ngay đến cái êm ả của vần bằng. Gãi tai rồi (vần bằng ở chữ 6 câu bát) vẫn chưa đủ đã ngứa, lại phải gãi thêm một cái nữa cho chắc ăn (chữ 8 câu bát). Có thật dân Việt Nam như vậy không? NẾU đã chấp nhận lục bát là quốc hồn quốc túy, thì phải chấp nhận những sự thật kể trên…

… Lục bát thường được coi là quốc hồn quốc túy của Việt Nam, nhưng theo tôi nó tượng trưng và biểu hiện những khuynh hướng bảo thủ của dân tộc. Trong khi các tác giả dân ca đã có nhiều thành công trong việc thăng hoa lục bát thành những bài hát đặc sắc, thì tân nhạc Việt Nam dường như lại thừa hưởng nguyên vẹn những đặc tính kém cỏi của lục bát… với những bài ca ngắn ngủi, cấu trúc không thay đổi (luôn luôn là thể ABA với 4 câu điệu A nhắc lại, 4 câu điệu B, rồi trở lại A), chủ đề cũ kỹ (tình yêu, thiền, chán đời, hoài hương – ở hải ngoại nhớ quê hương đã đành mà ngay ở Việt Nam cũng nhớ!) , kỹ thuật quen thuộc, tiết tấu buồn tẻ không bao giờ thay đổi, âm điệu êm tai dễ dãi (gần như không bao giờ đi ra ngoài tonality), kết thúc vội vã, trở về chủ âm chóng vánh, v.v… Tân nhạc cho tới nay phần lớn là nhạc để ru ngủ, cũng như lục bát phần lớn là thơ để ru ngủ. Với sự tiếp cận thế giới càng ngày càng mạnh mẽ, hy vọng rằng tân nhạc Việt Nam chóng thực sự trưởng thành và vượt qua những nhược điểm này.

where have all the microtones gone?

Tình ca – Phạm Duy

Thái Thanh
Lệ Mai
Mỹ Linh

ack to mother land, the genius musician Phạm Duy has published a new album named – Ngày trở về – The return day. Participated in performance are hit divas of contemporary Vietnamese music: Mỹ Linh and Thanh Lam. There’ve been other artists among the performing group (Đức Tuấn, Quang Dũng, Hồng Hạnh, Hồ Quỳnh Hương…), but I just mention some main figures here. The others are far from being called (hit) singer (if not to say that they even ruin the songs they perform). (In Vietnamese song music, there’s quite a distinction between song composer and song performer, they are rarely the same person.)

There have been some opinions on the album. No explicit criticism from officials, and in private places, people mention about the album with some joy & eagerness. The composer himself showed some surprising and satisfied attitude toward the singers. But it should be noticed that the great Phạm Duy is always a good businessman (his market-place style makes some people not to love him sometimes).

(Last 2005 end, in a ‘symbolic act’, the Sơn Ca communication company had bought the first 10 notes – and only 10 notes: tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời – of his song, Tình ca, to use in their product at a price of 100 million VND. Detail is here.)

Back to the music, Tình ca (Love song) may not be among the musician’s most glamorous songs. But from a social point of view, the song is very special in a way that it is statement for Vietnamese identité nationale (national identity). Generations of Vietnameses have grown up with its tune and verse in their soul.

The song is quite simple: a pure Vietnamese pentatonic scale, balanced and firm arrangement, and little use of microtone notes, compared to many of his other songs which may get really delicate and complicated, and which require the performer not only of skillful vocal techniques but also deep understanding on Vietnamese traditional tunes.

As pointed out in my previous posts (Microtones and Eastern music part 1, part 2, part 3), the microtonal music is special in a way that it can not be scripted by conventional (Western) musical notation. The vibration, duration and movement in notes & tunes are so subtle and delicate that it would take whole life for one to live in a culture to feel and understand them. Each culture has its own microtones as its fingerprints that characterize it with others.

Let “compare” some presentations of this same piece of music, first by Thái Thanh, then by a non-professional singer Lệ Mai, and this final record of Mỹ Linh. Mỹ Linh outperforms others in term of studio techniques. With excellent harmonization done by Đức Trí, the piece sounds really impressive. While Lệ Mai sang emotionally with a single guitar accompaniment, and Thái Thanh ‘s extreme voice was recorded some 40 years ago on LP 78 vinyl disks.

But for one who has enjoyed the old pieces would say: *TOO BAD* upon listening to the new one. Mỹ Linh seems to mimic, with her excellent vocal techniques, some microtonal melody sections that she does not seem to feel and understand.

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh. Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình, nhìn trùng dương hát câu no lành…

(notes flatten at end of a section, make shape of a long mountain chain – image notion taken from hoctroviet’s blog)

I myself stress heavily on the microtonal notes, which best describe the music identities. There’s some part in the song that tune comes really close to natural speech with all notes of almost the same pitch, where music comes return to resemble mother tongue in a beautiful and splendid contour. Mỹ Linh has missed all those subtleties out of her presentation.

Where have all the microtones gone?

We won’t talk about preserving traditional music here; things move and have to move. The thing is a way of perceiving and conceiving, an ear of music, when even a most recognized singer can’t feel and express, then a whole school of music has extincted and disappeared to nowadays young Vietnameses.

“lý thuyết hấp dẫn mới”

u hu hu hu, ô hô! Tôi muốn khóc, khóc to, thật to, khóc cho những linh hồn bạc nhược và ảo tưởng về một tương lai huy hoàng, khóc cho một dân tộc suy đồi, khóc cho một nền văn hóa và học vấn mạt vận… Mọi người sẽ cười, không phải cười một bệnh nhân vĩ cuồng (megalomaniac), mà cười cái hội đồng uy tín nào đã ca ngợi và đề nghị công bố cho cả thế giới biết, cười những cơ quan truyền thông nào đã lên dây cót tinh thần như thế này nhân dịp Việt Nam gia nhập WTO.

Gần đây báo Thanh Niên đăng bài: Một người Việt đề nghị công bố thuyết hấp dẫn mới, sau đó đăng nguyên văn bài viết chi tiết, trong đó tác giả Bùi Minh Trí nêu ra một lý‎ thuyết mới: Giải thích cấu tạo vật chất theo kiểu vật thể và trường quyển không thể tách rời của nó, đồng thời chỉ ra sự ngộ nhận của Newton và Einstein về nhiều mâu thuẫn nghịch lý, nhiều khái niệm mơ hồ không nhất quán về tự nhiên.

Báo Thanh Niên đồng thời trích lời PGS-TS Bùi Ngọc Oánh, (viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng VN): Vấn đề ông Bùi Minh Trí đưa ra là có cơ sở, nghiên cứu nghiêm túc nên Viện chúng tôi quyết định hỗ trợ việc công bố rộng rãi cho các nhà khoa học trong nước (và sau đó là các nhà khoa học quốc tế) được biết học thuyết mới này. Nguyên văn bài viết được đăng tải ở đây.

Bài viết bao gồm 45 trang, định dạng cẩu thả, có nhiều lỗi đánh máy, từ ngữ và khái niệm không nhất quán, thiếu chính xác, và nhiều câu tối (vô) nghĩa. Tác giả viện dẫn những thiếu sót, mâu thuẫn trong lý thuyết cơ học cổ điển của Newton, trong thuyết tương đối của Einstein, và đưa ra những luận chứng của Thuyết hấp dẫn mới để có thể giải thích các nghịch lý, mâu thuẫn của vật lý hiện đại. Tổng quát, trình bày của tác giả có cấu trúc như sau:

  • Thiếu sót của thuyết cơ học cổ điển của Newton.

  • Thuyết tương đối của Einstein và một số ngộ nhận của ông.

  • Thuyết hấp dẫn mới với khái niệm cơ bản: vật thể và trường quyển hấp dẫn năng lượng của nó.

1.   NEWTON VÀ CƠ HỌC CỔ ĐIỂN

Luận điểm chính phản bác thuyết cơ học cổ điển của Newton là: Khối lượng không hấp dẫn khối lượng mà khối lượng (trong vật thể tâm trường) hấp dẫn các năng lượng không gian (hạt Graviton) trong trường quyển chuyển động hướng tâm với gia tốc g. Các vật thể có khối lượng hiện hữu trong trường quyển bị cuốn theo cùng gia tốc đó (sic). Vấn đề ở đây là khái niệm vật thể và trường vật chất xung quanh vật thể không phải là khái niệm mới, nó đã có ít nhất từ lúc Faraday phát hiện ra điện từ trường.

Tác giả chỉ mượn lại khái niệm này và thêm vào graviton, một loại hạt giả thuyết chưa được chứng minh về sự tồn tại. Theo tác giả, quan điểm của Newton về không gian là không gian trống rỗng tuyệt đối. Thực ra là Newton, cũng như phần lớn các nhà khoa học cùng thời, cho rằng không gian được lấp đầy bằng ethe, một loại vật chất giả thuyết lúc bấy giờ.

2.   EINSTEIN VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI

Tác giả bài bác hai luận điểm của Einstein và gọi đó là ngộ nhận: Ngộ nhận vận tốc làm thay đổi khối lượng của vật thể chuyển động (sic). Einstein chưa bao giờ có ý này, ông chỉ nói vận tốc làm thay đổi thời gian tương đối của vật chuyển động.

Ngộ nhận môi trường không gian là chân không dẫn tới ngộ nhận vận tốc ánh sáng trong môi trường không gian là hằng số vật lý, thực ra vận tốc, ánh sáng c không phải là hằng số vật lý trong mọi trường quyển vật thể (sic). Einstein cũng không có ý này, ông chỉ nói vận tốc ánh sáng trong môi trường chân không là hằng số c. Một học sinh lớp 9 cũng biết rằng ánh sáng chuyển động khác nhau trong các môi trường vật chất khác nhau và đặc trưng cho thuộc tính này là chiết suất của môi trường. (Đây chính là đánh tráo khái niệm giữa môi trường chân khôngmôi trường không gian).

Phê phán về các chứng minh lý thuyết và thực nghiệm của lý thuyết tương đối (hẹp) của Einstein rất hàm hồ và không chính xác: Thuyết tương đối tổng quát đã dự đoán 3 hiệu ứng hấp dẫn… Các quan trắc đã kiểm nghiệm là khá phù hợp với dự đoán của lý thuyết, song các kết quả quan trắc kiểm nghiệm đó có đáng tin cậy hay không thì chưa có phương pháp kiểm chứng đảm bảo (sic).

Tác giả Bùi Minh Trí có thể đọc lại lịch sử vật lý để biết các chứng minh thực nghiệm này đã được chuẩn bị và tiến hành như thế nào, có rất nhiều tài liệu ghi lại các chuyến hải hành và đo đạc kiểm chứng của Viện Hàn lâm Khoa học và Hải quân Hoàng gia Anh lúc bấy giờ (1914). (Trong điều kiện nước Anh đang có chiến tranh với Đức, Thế chiến thứ I, mà giới học giả Anh vẫn có thể làm một hành động rất công tâm là kiểm chứng và thừa nhận giả thuyết của Einstein, lúc đó đang còn là một nhà khoa học Đức).

Không gian phi Euclid, một cơ sở của lý thuyết tương đối tổng quát có hiện thực hay không? Cho đến nay chưa ai chứng minh được bởi hình học phi Euclid của Riemann, Gauss, Bolyai, Lobachevsky suy ngẫm cho cùng chỉ là hình học mặt phẳng chuyển sang các mặt cong có độ cong không đổi trong không gian Euclid mà thôi. Đó không phải là hình học không gian phi Euclid (sic). Vậy thì thế nào mới là hình học phi Euclid, tác giả không nói rõ!?

Xây dựng thuyết tương đối tổng quát, Einstein đưa ra khái niệm không – thời gian cong, một khái niệm không thể hình dung nhận thức theo tư duy thông thường cho đến nay chưa có ai giải thích được rõ ràng thuyết phục khái niệm không – thời gian cong (sic). Điều này chứng tỏ tác giả không hiểu Einstein ở những điểm sơ đẳng nhất, cũng là những điểm tinh tế nhất, đồng thời tác giả cho thấy lập luận chủ yếu của mình là một quan điểm về không – thời – gian tuyệt đối. Đây là một nhận thức có tính trực quan và bản năng tồn tại trong mỗi cá nhân, một tri thức tiên nghiệm theo nghĩa của Kant, và cũng là nhận thức mà Einstein đã đả phá.

Đọc kỹ, có thể tìm thấy rất nhiều những nhận định hàm hồ và ngây thơ trong 45 trang viết.

3.   TÓM LẠI

Tác giả thiếu hiểu biết cơ bản về vật lý. Tác giả không logic trong cách đặt vấn đề và chứng minh vấn đề. Các công thức tính toán chỉ là những biểu thức cơ học cổ điển đơn giản, không có nội hàm biểu đạt không – thời gian theo nghĩa vật lý hiện đại. Chỉ cần một học sinh hết cấp 3 được giáo dục tử tế cũng có thể nhận ra những luận điệu vô bằng vô chứng của tác giả. Tình huống thế này có thể được tóm tắt trong một câu nói đùa như sau: người nghe không hiểu người nói đang nói những gì, nhưng nếu người nghe hiểu người nói ấy đang nói gì, thì người nghe cũng sẽ hiểu ra một điều rằng: người nói không hiểu điều anh ta đang nói! 😀 . Tác giả chỉ chứng minh được một điều rằng mình không hiểu Einstein và cả Newton ở những điểm sơ đẳng nhất. Thuyết hấp dẫn mới không có gì khác ngoài việc nhắc lại một cách không chính xác một số vấn đề của vật lý hiện đại. Tác giả thậm chí không đưa ra được một luận điểm có thể bàn cãi.


Phàm sinh ra ở đời, ai cũng dốt. Ði học được mươi năm, ta bớt dốt đi chút ít, nhưng người học sinh thông minh và biết điều hiểu rõ rằng những gì mình biết được so với những gì mình chưa biết chỉ là hạt muối bỏ biển, cho nên càng học càng thấy mình dốt. Thành thử có thể định nghĩa người có học thức là người biết mình dốt, hay nói như Khổng tử, “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri gia”; “biết cái gì thì biết là mình biết cái ấy; không biết thì biết là mình không biết, ấy là biết vậy”.

Có lẽ đó chính là cái yêu cầu, cái lý tưởng khó thực hiện nhất đối với người “có học thức”. Nó đòi hỏi nhiều đức tính rất khó có ở con người. Là người, ai cũng bị rất nhiều thứ áp lực thúc bách, trong đó áp lực mạnh nhất là áp lực của nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu này là trở ngại lớn nhất cho ý thức “tri chi vi tri chi”. Trong những điều kiện khó khăn như ở nước ta (nhất là trong thời chiến), người ta cần có địa vị, cần có bằng cấp, và cho thật nhanh. Học thì lâu quá, và nhiều người trong thâm tâm cũng biết là mình không đủ sáng dạ để học cho thật nhanh. Phải đi bằng con đường khác. Có những con đường có sức cám dỗ rất lớn – những con đường tắt và những con đường vòng của sự gian trá. Nhưng sự gian trá không phải không nguy hiểm. Nó có thể bị bại lộ. Có những người có lương tâm quá lớn, không thể tự dung túng cho mình sự gian trá. Mặt khác, không thể chọn con đường lao động học tập. Bị khép chặt giữa hai sức mạnh quá lớn, cõi vô thức trong tâm lý của những người ấy chọn một con đường thứ ba: một buổi sáng đẹp trời nào đấy, có một cái gì lóe lên trong trí họ. Họ chợt giác ngộ ra rằng họ là một người không cần học gì hết, vì một lẽ đơn giản là họ đã biết hết rồi, họ là một vĩ nhân, cách xa nhân loại hàng chục năm ánh sáng. Họ chợt hiểu rõ như ánh ban mai rằng những sách vở “kinh điển” mà họ đọc mãi không hiểu và tưởng đâu quá khó đối với mình, chẳng qua là một mớ giấy lộn do những đầu óc ngu đần viết ra – sản phẩm của những con người không đáng là học trò của họ. Trang tử, Mặc tử, Platon, Aristote, Einstein, Marx – một lũ dốt nát mà không hiểu tại sao người ta sùng kính. Sở dĩ mình đọc mãi mà không hiểu là vì những con người đó quá thấp so với tầm cỡ mình. Họ lấy làm lạ là sao ba bốn chục năm trời mình mới phát hiện được một điều đơn giản như vậy.

Cái hạnh phúc ấy quá lớn để họ có thể khước từ. Nó đưa những người như thế từ địa ngục lên thiên đường. Nó biến họ từ con sâu thành thần thánh. Từ nay, họ bước đi trên đường đời, lòng tràn đầy hoan lạc, nhìn xuống đám nhân loại tội nghiệp kia đang chìm trong cõi u tối, giương mắt bé nhìn mình mà không biết là đang nhìn ánh sáng của chân lý tuyệt đối.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nhất là một bệnh nan y như thế. Cách đề phòng duy nhất là làm sao các thế hệ đang lên không mắc vào cái họa ấy. Và muốn thế, chỉ có một cách là gạt bỏ mọi trở ngại trên con đường học vấn của con em chúng ta, làm sao cho chúng tiến đủ nhanh trên con đường ấy để khỏi bị dồn vào cái thế bí, buộc chúng tự huyễn hoặc mình bằng những ảo ảnh sinh ra từ chứng vĩ cuồng, để chúng luôn luôn nhớ rằng mình còn dốt, rất dốt, nhưng không phải là dốt một cách vô vọng, chỉ cần kiên nhẫn ít lâu là có thể đuổi kịp các bạn cùng lứa trên thế giới, rồi từ đó rất có thể vươn tới những đỉnh cao chân chính của khoa học hay nghệ thuật, chứ không phải những đỉnh cao hư ảo của sự điên rồ.