bắc hành, 2016, phần 16

ến cửa khẩu Tây Trang, hơn 30 km từ thành phố Điện Biên. Nhiệt độ xuống sát 0℃, nước ở những nơi có nhiều gió đã đóng băng (ảnh 4). Đến nơi, điều đầu tiên tự nhận ra là… không nói được, miệng cứ đông cứng lại, cố gắng lắm cũng chỉ phát âm những từ không rõ ràng! Thời tiết như thế này ở trong nhà thì không sao, nhưng chạy xe máy nhiều giờ liền thì…

Trẻ em dân tộc đốt lửa sưởi, trên người chỉ mặc đúng một cái áo mỏng. Hỏi gì cũng gật, em là người Việt à?, gật đầu, một lúc sau, thế em là người Lào à, cũng gật. Chúng nó không có sức mà trả lời nữa đâu các bạn ạ! Dĩ nhiên 0℃ chưa là gì so với các nước ôn đới, nhưng với xứ nhiệt đới như Việt Nam, người dân không có sự chuẩn bị cho nhiệt độ đó!

Sau nhiều tìm hiểu, tôi nghĩ rằng vẫn có thể đem xe máy đi xuyên Lào, nhưng không phải qua cửa khẩu Tây Trang (đã chính thức cấm), mà qua cửa khẩu Huổi Puốc (cách đó 20 km), dĩ nhiên là cần một chút bôi trơn và may mắn. Cùng một văn bản luật nhưng mỗi nơi, và tuỳ vào thời điểm, lại có cách diễn dịch khác nhau, dẫn đến tình trạng bất nhất như thế!

Sau một hồi cân nhắc, suy nghĩ… thấy tốt hơn nên cancel kế hoạch đi xuyên Lào trong các điều kiện thời tiết, đường sá, thời gian, tài chính… tất cả chuẩn bị như hiện tại. Plan B THẤT BẠI TOÀN TẬP! 🙁 🙁 Cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng hơn cho lần sau, mặc dù cái “thất bại” này cũng đã được dự tính đến từ trước khi khởi hành! Plan C tiếp tục!

bắc hành, 2016, phần 15

iện tượng rét bất thường trên toàn miền Bắc, khi tuyết rơi ở Ba Vì, ngay gần Hà Nội chứ không phải chỉ ở Sapa, Mẫu Sơn, Y Tý, Bát Xát… như các năm trước, nhiều nơi đã xuống độ âm. Thời tiết ở Điện Biên ngày này thấp nhất 3℃ vào giữa trưa, lạnh hơn cả năm ngoái cũng tầm này lúc tôi ở Sapa, trời mù, mưa lâm thâm, nhưng thật ra vẫn không quá khó chịu.

Thời tiết thật lý tưởng để đi bộ tham quan khắp cánh đồng Mường Thanh, cho cơ thể được vận động chút, thay vì đi xe máy: sông Nậm Rốm, cầu Mường Thanh, hầm chỉ huy của tướng Christian de Castries, đồi A1 (Eliane 2)… Đã đọc khá nhiều đầu sách về Điện Biên Phủ, nhưng phải đến tận nơi đây, chui vào các lô cốt và các đường hầm, thì mới hiểu được tại sao…

Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau này là thượng tướng) phải mất hơn 50% quân số của trung đoàn 174, đại đoàn 316 (chỉ mới tính số hy sinh, chưa tính số bị thương) và 36 ngày đêm ròng rã mới chiếm lĩnh được ngọn đồi này! A1 đổi chủ không biết bao nhiêu lần trong suốt 36 ngày đêm đó, mỗi bên chiếm một nửa, giằng co qua lại trong phần lớn thời gian!

Gần đỉnh đồi, cái hố cực lớn tạo ra bởi một tấn thuốc nổ, chỉ bằng cách đào đường hầm sâu vào trong thân ngọn đồi, đặt thuốc nổ để thổi bay nó đi thì đồi A1 mới thực sự bị đánh bại. Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến thắng bước ngoặt ở đồi A1 này, số phận của trận chiến Điện Biên đã được định đoạt. Lịch sử đã được viết bằng máu như thế đó!

bắc hành, 2016, phần 14

hăm bảo tàng Điện Biên, một công trình có phần hơi đơn giản, sơ sài, thiếu chi tiết, so với một sự kiện tầm cỡ như trận Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng nằm ở ngay trung tâm thành phố, bên trên một quả đồi cao (đồi D1, Dominique 2), cái công trình kiến trúc – điêu khắc ấy… không gây được trong tôi bất kỳ một cảm xúc thẩm mỹ nào, dù là nhỏ nhất!

Điều hứng thú duy nhất là đứng trên đỉnh đồi này, có thể nhìn ra bao quát toàn bộ cánh đồng Mường Thanh (không quá rộng lớn) và nhìn xuống trung tâm thành phố, những ngọn đồi bao quanh với mây mù vần vũ, một cảnh tượng rất ngoạn mục! Có cảm giác mọi quy hoạch đô thị ở cái thành phố này đều xoay quanh chủ đề… trận chiến Điện Biên Phủ.

Các loa phóng thanh khắp các phố phường vẫn hàng ngày loan tin, tạo ra một cái không khí như là… của thời bao cấp, hơn 30, 40 năm về trước! Đến cả cô hướng dẫn viên bảo tàng vẫn khóc mỗi khi thuyết minh cho du khách nghe về trận Điện Biên và Đại tướng. Không có ý bất kính, nhưng tôi đoán rằng mỗi ngày, cô ấy khóc khoảng chục lần như thế! 😀

Tin về nửa đêm, hoả tốc, hoả tốc! Ngựa bay lên dốc, đuốc chạy sáng rừng… Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…. Không cần phải nhờ đến tượng đài hay bảo tàng, lịch sử ngày xa xưa ấy tự nó đã là một điều vĩ đại! Dừng chân Điện Biên ít ngày trước khi bước tiếp hành trình!

bắc hành, 2016, phần 13

ượt đèo Pha Đin và một số con đèo nhỏ khác từ tp. Sơn La đi tp. Điện Biên. Với đường sá hiện đại như ngày nay và một cái xe tốt, thì chẳng có gì khó khăn khi chạy bất kỳ con đèo nào ở Việt Nam. Thật dể như ăn bánh, chỉ cần phải cẩn thận khi đi đường một tí! Tôi hơi dị ứng với các kiểu nói quá như: chinh phục, khám phá… “trải nghiệm” nghe có vẻ đúng hơn!

Đèo Pha Đin gây nên một sự hưng phấn nhẹ, cái địa thế núi non rộng lớn, các con dốc dài thăm thẳm. Tưởng đến ngày xưa, khi con đường tiếp vận chính cho chiến trường Điện Biên Phủ từ khu 4 (Thanh Hoá, Nghệ An…) đi qua con đèo này, những anh chị dân công hoả tuyến đẩy xe đạp thồ hàng tạ gạo, trung bình mỗi ngày qua đây chỉ đi được… ít hơn 4, 5 km!!!

Thời tiết lạnh, sương mù ẩm ướt, được cái ít mưa suốt cả chặng đường. Nhưng riêng đoạn Pha Đin, trời quang nắng ấm, cho tầm mắt được trông xa thoả thích đến hết cảnh vật xung quanh! Các bản làng của người Thái, những ngôi nhà sàn thật dài và lớn, khói lam chiều, và hình ảnh rất dịu dàng của người phụ nữ Thái, váy nhung đen, địu con sau lưng.

Bỗng dưng có suy nghĩ, với một đất nước địa hình chia cắt, nhỏ lẻ như Việt Nam, cộng với cách quy hoạch, xây dựng manh mún, tự phát, cách hay nhất để chụp được những khung hình thật đẹp là dùng một con drone, ví dụ như một quadcopter xịn, chỉ cần bay vượt lên trên cao một tí, từ trên nhìn xuống là thấy được toàn cảnh những non sơn gấm vóc này!

Chặng 13: Sơn La ⇒ Thuận Châu ⇒ đèo Pha Đin ⇒ Tuần Giáo ⇒ Mường Ảng ⇒ Điện Biên

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

bắc hành, 2016, phần 12

ừ Mộc Châu trở lên là nơi tập trung nhiều người Thái cư ngụ, xen lẫn một số ít người Mông, Mường, Dao và các dân tộc khác. Kiểu búi tóc cao đặc trưng của phụ nữ Thái, cùng với khăn vấn đầu, và một khung cảnh rất ngộ khi họ đi xe máy, chiếc nón bảo hiểm để đối phó với công an giao thông, lủng lẳng trên cao giống như chiếc gáo dừa buộc vào ngọn tre! 🙂

Trên địa bàn tỉnh Sơn La, người Thái là sắc dân chiếm đa số, đông hơn cả người Kinh, người Mông… Và những sinh hoạt hằng ngày của họ cũng có vẻ phong phú, nhiều mầu sắc. Tôi đã biết được một chút về người Mông, nhất là ở vùng Hà Giang, Đồng Văn, Mèo Vạc, Lào Cai… nhưng người Thái với tôi vẫn còn khá xa lạ. Tìm cách bắt chuyện với một số người…

Cảm thấy rất có cảm tình với giọng nói, cách phát âm của tiếng / người Thái vùng này. Dù không hiểu, nhưng cái ngôn ngữ 5 thanh điệu đó nghe rất mượt mà, tròn trịa và tinh tế, có sự chú trọng kỹ càng đến âm sắc, đến âm lượng phát ra và ấn tượng đối với người nghe, không như tiếng Mông, nghe hơi thô, gần giống với tiếng Hoa vùng phía nam Trung Quốc.

Thật tiếc là lịch trình đã vạch ra không chú trọng đến vùng Hoà Bình, Sơn La này. Lúc nào đó sẽ phải trở lại đây, ở trong các homestay của chủ nhà người Thái, ăn đồ ăn do họ nấu, giao tiếp với họ hằng ngày, nghe các làn điệu dân ca… thì may ra mới có thể hiểu thêm về họ. Hành trình “cưỡi ngựa xem hoa”, một cách miễn cưỡng, tiếp tục đi về phương Bắc!

Chặng 12: Mộc Châu ⇒ Yên Châu ⇒ Mai Sơn ⇒ Sơn La

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

bắc hành, 2016, phần 11

ộc Châu cách Mai Châu chừng 70 km, trên đường vào Mộc Châu qua huyện Vân Hồ, là khu vực sinh sống tập trung nhiều người Mông. Khác với vùng Hà Giang, Quản Bạ, người Mông ở đây có vẻ hiện đại hơn, và cũng ít phần “nguyên bản” hơn, đơn giản là vùng này thực ra rất gần đồng bằng Bắc Bộ. Khí hậu kiểu cao nguyên, lúc thì trời quang nắng ấm…

Lúc thì mù sương lạnh buốt, tuỳ vào vị trí và thời điểm trong ngày! Thị trấn Mộc Châu khá lớn, chạy dọc theo một thung lũng rất dài và hẹp, từ đầu này sang đầu kia thị trấn có hơn 40 km, và cuộc sống ở đây hoàn toàn hiện đại, bắt kịp với những thị trấn khác dưới đồng bằng. Cũng giống như Đà Lạt với Sài Gòn, Mộc Châu là nơi người để người Hà Nội đi đổi gió.

Với những ai cần sự thay đổi, Mộc Châu là điểm đến thích hợp, không quá xa trung tâm, đường đi thuận tiện, cuộc sống cũng đã có phần tiện nghi, hiện đại! Nhưng với tôi, đi với con mắt muốn quan sát xem người dân bản địa sống như thế nào, thì đó là một điều không mấy đẹp khi thấy… người Kinh chúng ta đi đến đâu thì làm rất nhiều điều tầm bậy đến đó!

Đến đây, món thích nhất là… sữa chua, ăn theo kiểu Mộc Châu: sữa chua bò sữa Mộc Châu (rất dẻo) trộn với xôi nếp cẩm (miền Trung hay gọi là nếp than), lúc đầu hơi lạ, nhưng ăn quen thấy rất ngon! Nói thêm chút về chuyện ăn uống, đi như thế này, một gói xôi nếp với vài khúc dồi lợn với tôi đã là một buổi tối ngon lành, không cần phải cao lương mỹ vị!

bắc hành, 2016, phần 10

m nhờ anh một việc: vừa qua rừng Cúc Phương, bên trái, đến cây xăng số 14, phía trước có một cô bé người Mường xinh xinh ngồi bán mía, anh xin giùm em số điện thoại cô ấy. Quả nhiên đến cây xăng 14 thì gặp cô bé đó thật! Gởi SMS số điện thoại cho ai đó gần 150 km dưới xuôi về phía Nghệ An, không quên chúc tếu anh chàng một câu hạnh phúc! 🙂

Miền tây Thanh Hoá là tiếp tục một dải núi đá vôi thường thấy ở vùng Quảng Bình, cảnh quan có nhiều điều ngoạn mục! Đây là xứ sở của người Mường, một anh em bà con gần với người Việt. Tôi thử nói chuyện với một số người Mường, tuy khó nghe, nhưng cố gắng vẫn hiểu được. Vì tiếng Việt với tiếng Mường vốn chung một gốc, có chung rất nhiều từ vựng!

Đèo Thung Khe, Mai Châu không quá dài (20 km), cũng không hiểm trở như những con đèo khác ở Lào Cai, Hà Giang tôi đã đi qua. Nhưng Thung Khe tạo nên một cảm giác chênh vênh rất lạ. Dưới chân đèo là đồng bằng, phía trên đã là miền núi, dưới còn đang là nhiệt đới, thì đỉnh đèo đã có một ấn tượng ôn đới, với rừng cây nhuộm phớt những sắc đỏ, vàng.

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi trong Tây Tiến – Quang Dũng chính là đây! Đâu có xa, chỉ khoảng hơn 150 km tính từ Hà Nội, nhưng đây đã là một thế giới khác biệt và riêng biệt! Sẽ dừng chân Mai Châu ít ngày để hiểu thêm về sự chuyển tiếp miền ngược / miền xuôi khá đột ngột này, thăm thú loanh quanh một số nơi, trước khi tiếp tục hành trình ngược bắc!

Chặng 10: Ngọc Lặc ⇒ Cẩm Thuỷ ⇒ Cúc Phương ⇒ Mường Khến ⇒ Mai Châu

Bắc hành, 2016, phần 1

bắc hành, 2016, phần 9

Nước non này chỗ đưa nhau,
Một xa, muôn dặm biết đâu cánh bồng!
Chia phôi khác cả nỗi lòng,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.

ừ Phố Châu, Hà Tĩnh vừa qua đến địa phận tỉnh Nghệ An, muốn mở điện thoại ra xem bản đồ thì mới biết nó rớt mất từ lúc nào! Vội vào quán bên đường, nhờ điện thoại gọi vào số của mình! May có người nhặt được bắt máy, thế là lội ngược trở lại 50 km để nhận lại cái điện thoại! Thế mà người trả tôi cái điện thoại nhất quyết không nhận bất kỳ sự đền đáp nào!!!

Cứ mỗi lần đi qua vùng Nghệ An, Thanh Hoá là tôi lại có cảm giác… trở về nhà! Có điều gì đó tương đồng từ trong ngữ âm, giọng nói cho đến tính cách, khó có thể lý giải cho rõ ràng được, mà người ngoài nhìn vào thì chắc chắn sẽ bảo rằng chẳng có gì giống nhau cả! Đứng trên cầu Cẩm Thuỷ, nhìn ra bốn bề cảnh sắc sông xanh núi biếc hữu tình, thầm đọc câu:

Phù vân du tử ý, Lạc nhật cố nhân tình (Tống hữu nhân – Lý Bạch) – text=浮云游子意&font=2&size=18&color=333333 text=落日故人情&font=2&size=18&color=333333. Dịch nghĩa: ý của kẻ lãng du thì như mây bay trên tầng không, mà tình người xưa cũ thì như vầng mặt trời sắp lặn. Cái sự cô đọng tối giản mà bao la ngữ nghĩa, mênh mông tình ý của thơ Đường nhiều khi không thể lý giải cho đủ hết ngọn nguồn được!

Tân Kỳ: km số 0 của đường Trường Sơn ngày trước, Nghĩa Đàn: những nông trường bò sữa dài ngút tầm mắt, bỏ qua thành nhà Hồ đã thăm trong chuyến đi năm ngoái, bỏ qua luôn suối cá Cẩm Lương, Cẩm Thuỷ, cũng chỉ là những đàn cá to, không có gì hấp dẫn lắm. Đường lên Mai Châu, Hoà Bình, đây đó đã thấy những y phục của người Mường, người Thái.

Chặng 9: Phố Châu ⇒ Đại Yang ⇒ Tân Kỳ ⇒ Nghĩa Đàn ⇒ Yên Cát ⇒ Ngọc Lặc

Bắc hành, 2016, phần 1

bắc hành, 2016, phần 8

iếp tục đi qua vùng có khí hậu khó chịu nhất Việt Nam, suốt một dãy từ Thừa Thiên cho đến Hà Tĩnh. Đi qua khu tưởng niệm cụ Phan Đình Phùng (người đặt căn cứ chống Pháp tại Vũ Quang), một công trình điêu khắc hiếm hoi mà theo tôi là chưa đẹp, nhưng ít ra cũng không xấu! Chẳng hiểu đang nghĩ gì trong đầu mà quên không chụp tấm ảnh nào cả!

Một dải phía tây, miền núi Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh… các nóc nhà thờ mọc lên như nấm sau mưa! Điều này cũng dễ hiểu, vì Thiên Chúa giáo truyền vào Việt Nam đầu tiên hết là ở những vùng này! Nhưng về sâu xa, ở đâu cuộc sống còn quá khó khăn, lòng người còn bấp bênh, dân trí còn thấp… thì con người ta còn cần có niềm tin để tiếp tục tồn tại!

Một cái bảng hiệu đã thấy nhiều trong chuyến đi xuyên Việt năm ngoái, nhưng đến bây giờ mới chụp lại (ảnh thứ 2 dưới đây, click vào ảnh để xem chi tiết dòng chữ Anh, Việt). Viết tiếng Anh như thế này mà người bản ngữ hiểu được chết ngay! 🙂 Không thể hiểu bằng cách nào người ta có thể dịch được như thế, vì đến cả Google translate cũng có thể làm tốt hơn!

Đi ngang qua nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãng Ông Lê Hữu Trác, nhưng trời lạnh buốt, làm biếng ghé vào, tiếp tục hành trình ra Nghệ An, Thanh Hoá. Từ đây, đường Trường Sơn thôi chạy dọc biên giới Việt – Lào, mà đi sâu vào miền trung du, dân cư cũng đã thêm phần trù mật, cảnh quan cũng đã khai phá nhiều, không còn nguyên sơ như đoạn đường trước!

Chặng 8: Khe Gát ⇒ đèo Đá Đẽo ⇒ Vũ Quang ⇒ Hương Khê ⇒ Phố Châu

Bắc hành, 2016, phần 1

bắc hành, 2016, phần 7

ặp gỡ thú vị nhất trên đường, đôi bạn trẻ người Đức, Philipp và Leonie đạp xe từ Đức đến hôm nay đã gần 40 000 km. Leonie đang ăn cơm tự nấu theo kiểu Lào, họ cắm trại dọc đường như thế suốt hành trình hơn 10 tháng của mình. Thật đáng ngưỡng mộ, những chặng đường như thế này, đi bằng xe máy còn thấy khó khăn và mệt mỏi, nói gì đến xe đạp!

Ngồi nói chuyện với họ một lúc lâu rồi tiếp tục lên đường. Cứ mỗi lần qua sông Son, Phong Nha, Quảng Bình là tôi lại có những cảm xúc đặc biệt! Nước sông một màu xanh biêng biếc, từ chính xác nhất để mô tả màu của nó là “bích” – text=碧&font=2&size=18&color=333333. Trong tiếng Hoa, từ này chỉ một màu xanh pha giữa xanh lá cây và xanh nước biển, không phân biệt rõ được là màu nào.

Giống như ngọc bích, cái màu xanh ấy thực là huyễn hoặc và quyến rũ, nhất là đoạn gần phía thượng nguồn, và nhất là khi làn sương giăng ngang mặt sông vừa chớm tan ra. Chiều nay đứng bên dòng sông này, bỗng dưng nổi hứng đọc hai câu của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ: Bờ sông xanh, chiều hôm nay buộc ngựa, Kiếm gối đầu, theo gió thả hồn cao!.

Thời tiết ngày càng trở lạnh, lại vừa có thêm một đợt gió mùa Đông Bắc mạnh tràn về. Tiếp tục hành trình lang bạt đây đó, tránh xa các nhà hàng, khách sạn “sang trọng”, những món ăn đặc trưng của địa phương mới chính thị là “ngon, bổ, rẻ”! Một món khoái khẩu hay ăn là bún cầy (bún thịt chó), từ vùng Quảng Bình trở ra phía Bắc vẫn thường hay gặp 🙂 !

Chặng 7: Hướng Hoá ⇒ Hướng Phùng ⇒ Tăng Ký ⇒ Khe Gát

Bắc hành, 2016, phần 1