bắc hành, 2016, phần 36

au đình Bảng là đến đền Đô (lại là những địa danh đơn âm), đền thờ 8 vua triều Lý. Đền Đô toạ lạc trên một khuôn viên rộng lớn, có bố cục tổng thể rất đẹp. Bi đình lập từ thời vua Minh Mệnh, bia viết: Lý triều chư hoàng đế. Thuỷ đình rất đẹp nằm giữa một hồ nước bán nguyệt lớn. Tấm hoành chính điện đề: Lý triều bát đế, và bức tiếp theo đề: Cổ pháp vĩnh truyền.

Cổ Pháp cũng là tên chữ của làng. Tự dưng đặt câu hỏi cái chữ ‘cổ’ (trong: Cổ Loa, Cổ Bi, Cổ Pháp…) và chữ ‘kẻ’ (Kẻ Bàng, Kẻ Vang, Kẻ Chợ…) có phải từ một gốc mà ra!? Thực sự là mãn nhãn với cái bố cục đẹp của ngôi đền, chứ nếu đi vào chi tiết từng chữ Nho, từng nét thư pháp thì vẫn chưa vừa ý, vì ngôi đền bị phá huỷ nghiêm trọng trong kháng chiến 9 năm.

Và được trùng tu tôn tạo lại gần như toàn bộ trong những năm cuối 80, đầu 90. Đình chùa đầu năm đông không thể tả, không chỉ ngột ngạt khó chịu cho người du ngoạn, mà cũng chẳng thể nào chụp được một bức ảnh cho hoàn chỉnh! Sang đến chùa Phật Tích thì thấy biển người nườm nượp chen vai thích cánh nhau đi chùa, nhìn là đã không muốn vào.

Chùa Phật Tích cũ nổi tiếng với nhiều điêu khắc đá rất đẹp, nhưng tôi chẳng thể nào tham quan được gì khi mà người đi chùa cứ vai sát vai thế này. Trên đỉnh là toà tháp và bức tượng Phật lớn, được xây mới trong vài năm đổ lại đây, nhìn cũng khá hoành tráng. Chợt nhớ ra, ngôi chùa trên đảo VinPearl, Nha Trang chính là xây theo nguyên mẫu chùa Phật Tích này.

bắc hành, 2016, phần 35

ình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh có lẽ là ngôi đình lớn nhất Việt Nam còn tồn tại đến ngày hôm nay, lớn hơn hẳn đình Mông Phụ, Đường Lâm tôi đã ghé thăm trong chuyến Bắc hành năm ngoái. Đình xây theo hình thể chữ đinh, điểm đẹp nhất là mái đầu đao vươn xa, tạo nên bố cục rộng lớn. Nhìn kỹ, sẽ thấy hai con lân chầu ở cửa đình… không giống nhau.

Không phải là một cặp cân xứng giống hệt nhau, mà mỗi con lại là một điêu khắc khác biệt. Điều thú vị trong kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật Việt là ở chỗ này chỗ kia, bạn lại bắt gặp một chi tiết gì đó phá cách, bất thường, không tuân thủ theo những quy tắc phổ biến. Như tượng con đá chó phía sau ngôi đình cũng là một điều đặc biệt, tự nhiên, không ước lệ.

Những điêu khắc gỗ trong đình còn lại không quá nhiều, cũng như những điêu khắc đá mới bổ sung, tôn tạo sau này, cùng với những chiếc đèn lồng đỏ nhìn… lạc tông, không đồng điệu. Nhưng ít ra chúng ta còn có được một công trình tương đối hoàn thiện, để biết được rằng kiến trúc Việt ngày xưa như thế nào, trải qua bao thăng trầm của chiến tranh và thời gian.

Nếu như ai đó nghĩ rằng kiến trúc Việt, từ dân gian, đình chùa đến cung đình đều chỉ be bé, xinh xinh, không có gì quá vĩ đại thì… thực ra đúng là như thế. Khắp cả Bắc, Trung, Nam, kiến trúc Việt còn kém đặc sắc so với kiến trúc Lào, Campuchia. Nhưng mặt khác, các bạn cũng hãy bớt xem phim Tàu đi, mà nhìn rõ trên quê hương chúng ta còn lại những gì.

bắc hành, 2016, phần 34

ừ Lạng Sơn qua Bắc Giang, Bắc Ninh về Hà Nội theo quốc lộ 1A, con đường đi trong một “thung lũng” rộng nằm giữa hai dãy núi, càng lúc càng hẹp dần, thắt lại như một cái cuống phễu ở quá thị trấn Chi Lăng một chút. “Ải Chi Lăng” bây giờ chỉ là đôi bờ kè đá nhỏ đánh dấu chỗ hẹp nhất đó. Từ đây bắt đầu vào địa phận tỉnh Bắc Giang đã hầu như là đồng bằng.

Qua thị trấn Lạng Giang, Bắc Giang, nhác thấy một cái biển nhỏ xíu đề: Đoàn An Lão (1 km). Thế nghĩa là E2, F3 (và thực tế là toàn bộ F3) đang đứng chân ở cái thị trấn nằm ngay sát tỉnh Lạng Sơn này, hơi lùi sâu vào nội địa một chút so với điều tôi nghĩ. Và ở đây cũng có dấu hiệu của ít nhất một vài F lẻ khác, không trực thuộc Quân đoàn 2 Hương Giang.

Những địa danh đơn âm đến mức tối thiểu: Vôi, Kép, Lim, Dâu, Đô… những miền đất rất cổ của người Việt. Qua sông Cầu (sông Như Nguyệt), ranh giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Từ đây, có thể thấy đồng bằng Bắc Bộ đang bị đô thị hoá cao độ, các thị trấn nằm san sát nhau, và ngay cả một số làng xã nông thôn nhìn cũng chẳng khác gì phố thị.

Bắc Ninh, Kinh Bắc, Hà Bắc… tên qua những giai đoạn khác nhau, nhưng đều ám chỉ nơi đây, vùng đất phía Bắc, rất gần, chỉ khoảng 20 ~ 50 km tính từ thủ đô Hà Nội. Có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá ở vùng đất có lịch sử lâu đời nằm ngay sát kinh kỳ này. Dừng chân ít ngày, thăm thú một số nơi, trước khi bỏ qua những vùng đất đã biết để đi suốt về Nam.

bắc hành, 2016, phần 33

ẫu Sơn, huyện Lộc Bình, cách thành phố Lạng Sơn tầm 30 km, sát với biên giới Trung Quốc. Tuy không quá cao, chỉ khoảng 1500 m, nhưng khí hậu luôn mát lạnh quanh năm. Thực ra có đến hai đỉnh núi nằm cạnh nhau, ngọn thấp hơn vẫn thường gọi là Mẫu Sơn, một đỉnh cao hơn nằm ngay kế bên cạnh (Phụ Sơn!? 🙂 ) nhưng chưa có đường cho xe lên.

Một ngày nắng ấm đẹp trời, đường từ chân núi lên tới đỉnh chỉ khoảng 15 km đường bê tông nhựa nhỏ, không khó đi lắm. Tuy vậy, muốn biết về những đường cung đường quanh co uốn lượn đến mức quái dị, hãy lên gần đỉnh Mẫu Sơn sẽ thấy! Từ trên đỉnh nhìn ra bốn phía trông rất ngoạn mục và mãn nhãn, tiếc một điều là núi trọc, tỷ lệ phủ xanh thấp.

Quay trở lại thành phố Lạng Sơn, bên ly cà phê, cuộc trò chuyện với những người “quen cũ”. Thực ra chỉ có người ở lại là sẽ thay đổi, kẻ ra đi chẳng đổi thay bao giờ. Vì hắn đã chủ động “keep moving” liên tục, để cho con người luôn nhìn sự việc từ những góc độ biến động khác nhau, sur les chemins mouvant, thế nên tâm hồn hắn thì vẫn mãi mãi là như thế!

Từ đây về Hà Nội chỉ 154 km đường thẳng, địa hình núi đồi thấp, các bác bên Bộ quốc phòng sẽ luôn có khối chuyện đau đầu về cái sự “defence in depth” ở một khu vực như thế này! Vẫn còn do dự mong muốn đẩy hành trình đi xa hơn nữa, nhưng năm nay tạm bằng lòng với chừng ấy. Chặng áp cuối của hành trình, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội.

bắc hành, 2016, phần 32

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

ấm hình đầu tiên: quả hồi phơi khô, mùi hương nhẹ nhàng nhưng thật khó phai! Thăm động Tam Thanh, coi như là đi chùa đầu năm. Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị họ vừa nung vôi chính thị là nơi đây 🙂 ! Cái lời nhại ca dao ấy thực ra là tương đối chính xác, cái tượng nàng Tô Thị họ mới đắp lại sau này trông rất nham nhở, chả đâu vào đâu!

Thăm động Tam Thanh xem như đi cho có. Thực ra, càng lúc tôi càng có cảm giác người Việt cái gì cũng thích đồ giả, không thích đồ thật. Một quả đồi bé xíu, xây vài bậc tam cấp, vài cái đình bé tí ti, đặt những cái tên hoành tráng: cổng trời, hang địa ngục, bàn tay Phật, etc… Càng như thế, họ càng không hiểu được cái rộng lớn của thiên nhiên, của núi non, biển cả.

Leo lên pháo đài Đồng Đăng, một công trình bê tông ngầm to lớn và đổ nát. Nơi đây, hơn 700 con người, vừa dân vừa lính, đã tử thủ cho đến người cuối cùng, trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh 1979. Pháo đài Đồng Đăng, ở một quy mô nhỏ hơn, nhưng lại bi thảm hơn, cũng giống như pháo đài Brest trong chiến tranh vệ quốc của người Nga vậy!

Chủ khách sạn, một người lính đặc công 73 tăng cường cho mặt trận Lạng Sơn, sau chiến tranh, đã cưới một cô gái Nùng 15 tuổi và định cư ở đây! Hai vợ chồng cực kỳ hiếu khách, thế nên Tết nhất với tôi không phải thiếu gì. Nhưng đôi khi, chỉ cần một bát nước chè, vài hơi thuốc lào… đang tự biến mình thành một anh chàng Bắc cày, Bắc cầy chính hiệu! 🙂

bắc hành, 2016, phần 31

Ngoảnh lại trước: người xưa vắng vẻ,
Trông về sau: quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.

ua Đông Khê, Thất Khê, đèo Bông Lau… những địa danh huyền thoại trong kháng chiến 9 năm chống Pháp. Các bia đá tưởng niệm giờ chỉ là những vật thể nhỏ nhoi, mờ nhạt, hoang phế hai bên vệ đường, chẳng có mấy người để ý coi sóc đến. Tiểu đoàn 374, mật danh đoàn “Bông Lau”, với bài hát: Bông Lau, Bông Lau, rừng xanh pha máu… (Phạm Duy).

Bài hát đó đến chính tác giả cũng không còn nhớ nhạc điệu nó như thế nào. Mà tất cả những ai từng nhớ, từng say mê hát nó thì đã thành ra người thiên cổ tự bao giờ. Tần ngần đứng lặng hồi lâu: Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả…, text=前&font=2&size=18&color=333333text=不&font=2&size=18&color=333333text=见&font=2&size=18&color=333333text=古&font=2&size=18&color=333333text=人&font=2&size=18&color=333333text=后&font=2&size=18&color=333333text=不&font=2&size=18&color=333333text=见&font=2&size=18&color=333333text=来&font=2&size=18&color=333333text=者&font=2&size=18&color=333333 (Đăng U Châu đài ca – Trần Tử Ngang), quả thật là đáng buồn lắm thay!

Qua Thất Khê, cái thị trấn bé thoang thoảng một mùi hương ngan ngát của hồi (ai đã đọc Rừng hồi xứ Lạng nhỉ). Nếu không phải lái xe, thì cứ muốn nhắm tịt mắt lại, để từ từ trôi qua cái không gian này, tận hưởng mùi hương hồi thơm ngát. Đi qua nhiều vùng đất, ngửi thấy gì cũng đủ biết về chốn xe đang qua, này là hương quả sung chín nẫu thơm đến ngọt…

Này là mùi mật mía đậm đà của những xưởng tinh luyện đường, đây là mùi rơm rạ khô đang cháy, này là mùi ẩm ướt, tươi mát của cỏ non vừa mới cắt xong, kia là mùi hăng hăng của sắn lát khô đang phơi được nắng… Thế giới này không phẳng, không hề phẳng các bạn ạ, không phải chỉ có mùi lavender của các văn phòng, công sở với máy lạnh đâu!

Chặng 31: tt. Phục Hoà ⇒ Đông Khê ⇒ đèo Bông Lau ⇒ Thất Khê ⇒ Đồng Đăng ⇒ tp. Lạng Sơn

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

Lạng Sơn, 2016

bắc hành, 2016, phần 30

hân đến thác Bản Giốc nên ghé thăm luôn động Ngườm Ngao nằm cách đó 3 km. Thực ra đi thăm động chỉ là một cách để tiếp xúc và nói chuyện nhiều hơn với những người Tày ở địa phương, nhiều trao đổi thú vị, chứ kể từ sau khi thăm động Thiên Đường, Quảng Bình năm 2013, thì tôi đã không còn hứng thú thăm các hang động be bé nào khác nữa 🙂 .

Những người Tày ở đây có lối xây nhà rất đặc trưng không bắt gặp ở những vùng khác. Thay vì là nhà sàn gỗ, họ xây những ngôi nhà lớn bằng đá hộc, với chất kết dính chỉ là đất sét. Đây đó có thể thấy những ảnh hưởng từ phía Trung Quốc, nhà nào cũng treo một bức hoành Tân gia đại cát ở phía trên cổng chính, và một số câu đối chữ Hoa rải rác khắp nhà.

Quay ngược trở lại Quảng Yên, nhưng không theo quốc lộ 4C, mà theo tỉnh lộ 207 qua thị trấn Hoà Thuận, thị trấn Phục Hoà sát cửa khẩu Tà Lùng với Trung Quốc. Cả một vùng “non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”, tiếp giáp với khu vực gọi là “Thập Vạn Đại Sơn” phía bên Trung Quốc. Như tên gọi, là hàng ngàn hàng vạn ngọn núi nhỏ nằm liên tiếp nhau.

Rồi từ đây, theo tỉnh lộ 208 đi Đông Khê, Thất Khê rời Cao Bằng qua địa phận tỉnh Lạng Sơn. Có đôi khi, gã lang thang núi đồi cũng biết nhớ phố, đi giữa đại ngàn mênh mông, mà nghe đâu đây tiếng hát: mùa đông năm ấy, tiếng dương cầm trong căn nhà đổ, tan lễ chiều sao vọng tiếng chuông ngân, ta còn em một mầu xanh thời gian, một chiều phai tóc em bay…

Chặng 30: thác Bản Giốc ⇒ động Ngườm Ngao ⇒ Trùng Khánh ⇒ Quảng Yên ⇒ tt. Phục Hoà

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

bắc hành, 2016, phần 29

ừ tp. Cao Bằng qua đèo Mã Phục (một con đèo xinh xắn thuộc huyện Trà Lĩnh), qua huyện Quảng Uyên, Trùng Khánh, từ đây 25 km nữa là đến thác Bản Giốc. Một buổi sáng nắng ấm đẹp trời như tôn vinh thêm quan cảnh sơn thuỷ hữu tình hai bên đường. Cao Bằng đẹp một cách diễm lệ và thanh bình, tuy không sắc sảo đến mức cực đoan như Đồng Văn.

Dừng chân đỉnh đèo, hai cái bánh chưng chiên be bé của người Tày thay cho bữa sáng. Thác Bản Giốc quả thực như một viên ngọc quý lớn trên cái vương miện du lịch miền Đông Bắc. Thực trạng về phân định biên giới Việt – Trung ở thác Bản Giốc, theo những xác nhận tại địa phương (không giống như một số thông tin kém chính xác trên internet):

Thác gồm hai cụm, một to một nhỏ, cụm nhỏ (rộng nhưng thấp hơn) thuộc về Việt Nam, cụm to (thác chính) thì một nửa thuộc về Việt Nam, một nửa thuộc về Trung Quốc. Hiệp định phân chia biên giới mới nhất xác nhận cột mốc 53 (cũ) nằm ở chính giữa thác lớn, lấy dòng sông Quy Xuân làm ranh giới, chia hai dòng sông tức đồng nghĩa là chia đôi thác lớn.

Nhưng cũng theo những thông tin của nhiều người dân địa phương, ngày xa xưa, cột mốc 53 nằm trên đỉnh núi ngay sát bờ bắc (phía TQ) của dòng sông, theo như xác lập bởi Công ước Pháp – Thanh 1887 thì thác Bản Giốc nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Chính người Trung Quốc đã dời cột mốc xuống quá chân núi để chiếm một nửa dòng thác lớn!

Chặng 29: tp. Cao Bằng ⇒ đèo Mã Phục ⇒ Quảng Yên ⇒ Trùng Khánh ⇒ Bản Giốc

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

bắc hành, 2016, phần 28

ừ Bảo Lạc chạy dọc theo quốc lộ 34, vượt đèo Phia Oắc đi Tĩnh Túc. Cao trên 1900 m, Phia Oắc là một khung cảnh rất hoành tráng, hai đỉnh núi đá lớn dựng đứng nằm cạnh nhau, ở giữa trũng xuống giống như hình một chiếc yên ngựa. Và con đường đèo chạy vòng quanh, nhìn từ trên cao xuống như làm thành 3/4 (270 độ) của một cung tròn hoàn chỉnh.

Mức độ choáng ngợp của cung đường này có lẽ chỉ đứng ngay sau Ô Quý Hồ hay Mã Pí Lèng, nhưng điều đặc biệt là toàn bộ địa thế ở đây có thể gói gọn hoàn toàn trong tầm mắt, rất ngoạn mục. Tiếc là đi qua đây trong một buổi chiều đầy sương mù, mưa và lạnh, nên không thể chụp một khung hình đẹp lấy được rõ ràng toàn bộ quang cảnh hấp dẫn đó.

Thị trấn Tĩnh Túc (được nhắc đến trong SGK phổ thông) là một mỏ thiếc lớn của Việt Nam. Thị trấn Nguyên Bình toàn bộ là một nông trường mía, xanh mướt, đang mùa sắp thu hoạch. Từ đây, quốc lộ 34 không còn xấu nữa, đã được mở rộng và tráng nhựa phẳng phiu. Tăng ga chạy nhanh suốt đến thành phố Cao Bằng khi trời đã về chiều và dần trở lạnh.

Cao Bằng, Lạng Sơn tuy là những tỉnh miền núi, nhưng địa hình không quá cực đoan như Hà Giang, Đồng Văn. Đường xá rộng và phẳng, đi lại dễ dàng. Hai tỉnh này có nhiều cửa khẩu với Trung Quốc, hàng loạt thị trấn nhỏ sát biên giới mọc lên để phục vụ cho việc giao thương. Đi bằng xe máy nên cẩn thận với các xe tải, xe container lớn nhộn nhịp suốt ngày đêm.

Chặng 28: Bảo Lạc ⇒ Ca Thành ⇒ đèo Phia Oắc ⇒ Tĩnh Túc ⇒ Nguyên Bình ⇒ tp. Cao Bằng

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

bắc hành, 2016, phần 27

ức hình đầu tiên, chụp gần chợ tình Khâu Vai, những chữ Mông (Romanized) viết trên thanh rào chắn đường, và phần chữ Việt chú thích (!?). Từ Mèo Vạc đi Niêm Sơn, hơn 50 km xe hầu như không phải nổ máy, cừ từ từ thả trôi suốt đoạn đường để rời khỏi cao nguyên Đồng Văn. Muốn thăm thú Đồng Văn kỹ càng hơn, nhưng lịch trình không cho phép!

Lúc nào đó, phải trở lại, ở đây một tháng, hoặc nhiều hơn nữa, thì may ra mới có thể hiểu rõ hơn về người Mông, ngôn ngữ và văn hoá của họ. Đến Bảo Lâm, Bảo Lạc là đã sang địa phận tỉnh Cao Bằng. Nhiệt độ đang từ 4 ℃ bổng nhảy lên 12 ℃, cảm thấy ấm áp đến mức nóng bức muốn cởi áo ấm! 🙂 Thực ra, mọi cảm giác của con người ta chỉ là… tương đối!

Cao Bằng thật đúng nghĩa tức là… cao nhưng bằng. Địa hình gồm chủ yếu là các núi trung bình và nhỏ, nằm tương đối thưa nhau. Nên giữa các quả núi đó có khá nhiều đất đai bằng phẳng cho canh tác nông nghiệp, và đường sá vì thế cũng rộng rãi, ít đèo dốc, dể đi hơn nhiều. Từ đây, các ngôi nhà trình tường xây bằng đất nện của người Mông cũng ít dần đi.

Thay vào đó là các ngôi nhà sàn lớn bằng gỗ của người Tày. Nếu chỉ nhìn trên trang phục, quần áo hàng ngày, thì người Tày chẳng có mấy nổi bật. Nhưng tiếp xúc với họ nhiều mới thấy họ là một dân tộc hiếu khách và chân thành. Và tâm lý chung của người Kinh sống ở những miền này cũng thường xem người Tày đáng tin cậy hơn những sắc dân khác!

Chặng 27: Mèo Vạc ⇒ Khâu Vai ⇒ Niêm Sơn ⇒ Bảo Lâm ⇒ Bảo Lạc

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016