paddle on, paddle still

iếp tục công cuộc thuyền bè và chèo chống… Nhớ lại cách đây mới khoảng 3 năm, chèo thuyền ngang qua con sông rộng chừng 300 m là đã có cảm giác: như con chim non nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ 🙂 , đến nay thì 30 km (100 lần nhiều hơn thế) băng qua cửa biển rộng mênh mông, làm một phát không phải nháy mắt!

Nhưng từ đây lên đến 3000 km vẫn còn… 100 lần nhiều hơn thế nữa. Con đường còn xa, xa ngái, Xuyên à! Thôi thì cứ giả vờ như cái “sự nghiệp rong chơi” này nó nhàn nhã, tiêu dao lắm, mà ngâm câu thơ rằng: Lữ khách nhàn trên thuyền gác mái, Trong chiều tàn khởi hát dân ca. Mỉm cười vốc ánh trăng ngà, Ngắm hoài không chán bao la suối rừng.

Khởi động trở lại chế độ mỗi tuần 3 buổi tập, mỗi buổi 20 ~ 25 km như trước. 50 ngày đi xuyên Việt xe máy thì có tí vất vả, nhưng chẳng rèn luyện được sức bền như chèo thuyền chút nào. Thực ra ít có môn chơi nào đã gian khổ lại nguy hiểm như… chèo thuyền! Cố gắng lấy lại phong độ nhanh chóng, bao nhiêu “phiêu lưu” dự tính đang đợi chờ tôi ở phía trước!

Mùa này ở Sài Gòn, người ta bắt đầu chơi thả diều, tức là đã có gió, rất nhiều gió, nhất là ở trên sông, mãi cho đến tận tháng 4, tháng 5. Cũng là thêm một điều hay khi đi chèo thuyền. Dù nước ngược hay gió ngược, dù sóng to hay phẳng lặng, dù thế nào thì con thuyền vẫn luôn phải “tinh tấn” tiến lên phía trước! Không có gì “ẩn dụ” cho cuộc sống hay hơn thế!

text=清溪泛舟-张旭&font=1&size=17&color=0000ee
text=旅人倚征棹&font=2&size=17&color=555555
text=薄暮起劳歌&font=2&size=17&color=555555
text=笑揽清溪月&font=2&size=17&color=555555
text=清辉不厌多&font=2&size=17&color=555555

tiếng đàn tôi

Mênh mông lả ơi, người về xoã tóc không lời.
Khoan khoan hò ơi, nhịp sầu xa vắng mà thôi.
Mênh mông lả ơi, đường về xa tắp không lời.
Khoan khoan hò ơi, lạnh lùng em đã rời tôi.

hi ra đây một chuyện thú vị trong chuyến xuyên Việt vừa qua. Thoáng nghe một bà lão (chừng trên 70 tuổi) vừa rửa chén bát, vừa hát bài này ở thành phố Điện Biên Phủ. Dừng xe lại, đúng vào cái khúc: mênh mông lả ơi ấy, và giả vờ hỏi: cụ ơi, cụ đang hát bài gì thế ạ!?, thì nhận được câu trả lời: tôi cũng không nhớ đâu, chỉ hát chơi thế thôi!

Cái thú vị là ở chỗ, nghe được một điệu dân ca rất xa xưa, lồng trong một ca khúc cũng đã khá xa xưa, được hát bởi một người cũng đã vào tuổi “xưa nay hiếm”. Và người trình diễn cũng chỉ nhớ và hát nó hoàn toàn tình cờ, thậm chí không còn biết đến tựa đề hay tác giả. Cái sự đi vào lòng người, thấm vào trong tiềm thức, thành công của âm nhạc chính là ở chỗ đó.

Tôi cũng không biết là bài này được phát triển từ điệu dân ca nào, nhưng NS Phạm Duy hẳn là sẽ mỉm cười khi biết chuyện thế này! Nghe thêm cụ Phạm Ngọc Lân đàn và hát bài này dưới đây, và hát đầy đủ cả 2 lời của ca khúc. Còn có thêm một lời ca nữa: Xuân Hương nàng ơi, thuyền về tới bến mê rồi, nhưng lời đó thì chỉ có NS Phạm Duy mới biết mà thôi! 🙂

Tiện nói luôn, lặp lại một số điệu phổ biến, kiểu: tình tang nọn tàng tinh, tính tang nọn tang tình (Lý ngựa ô Huế) mà gọi là hiểu dân ca thì… nực cười lắm, cái đó mới gọi là học vẹt thôi. Hiểu thực sự là nắm được những thể phát triển từ dân ca, lần theo được những biến hoá tinh vi của nó. Đó cũng là lý do tại sao các nhạc sĩ hiện đại không sáng tác được dân ca (học vẹt).

Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt, với bao tiếng tơ xót thương người. Vì cuộc tình đã chết một đêm nao, lúc trăng hãy còn thơ ấu.

Dù đời tàn trên cánh nhạc chơi vơi, vẫn còn mong nhớ khúc yêu đời. Lúc bao nhiêu tiếng cười, rộn ràng chảy về xuôi.

1. Mênh mông lả ơi, thuyền về tới bến mê rồi, khoan khoan hò ơi, dặt dìu trong tiếng đàn tôi. Mênh mông lả ơi, thuyền về bát ngát hương trời, khoan khoan hò ơi, nhịp sầu xa vắng mà thôi!

Buồm về dội nắng trên khơi, bao nhiêu hoàng hôn đến cho êm vui người ơi! Có tiếng hát theo đàn tôi, như ru như thương linh hồn đắm đuối. Mênh mông lả ơi, thuyền chờ mong gió lên trời, mang theo đàn tôi chảy về đậu bến ngày mai.

2. Mênh mông lả ơi, đường về dương thế xa vời. Khoan khoan hò ơi, lệ sầu rụng xuống đàn tôi. Mênh mông lả ơi, người về xoã tóc không lời. Khoan khoan hò ơi, nhịp sầu xa vắng mà thôi.

Buồm về dội nắng trên khơi, bao nhiêu màu hoa ngát trên đôi môi, người ơi! Có tiếng hát theo đàn tôi, như ru như thương linh hồn đắm đuối. Mênh mông lả ơi, đường về xa tắp không lời. Khoan khoan hò ơi, lạnh lùng em đã rời tôi.

Tiếng đàn tôi – Quỳnh Giao

Tiếng đàn tôi – Thái Hiền

thị dân ca – phần 4

ái việc nghe, hiểu, cảm dân ca ấy, nó không hề đơn giản một chút nào! Nói thế này nhé, cùng đi học nhạc ở Nga về, cùng sáng tác thính phòng giao hưởng, cùng lấy dân ca làm cảm hứng, nhưng Cao Việt Bách và Nguyễn Tài Tuệ theo tôi ở hai level hoàn toàn khác nhau! Cái gì gây nên sự khác biệt như thế!? Có bao nhiêu nhạc sĩ đương thời sáng tác được theo phong cách dân ca, sáng tác thật sự ấy, chứ không phải là copy & paste!? Hình như là không có ai, đừng kể với tôi những loại chim đa đa, đậu cành đa, lấy chồng xa nhé. Và trong suốt chiều dài lịch sử âm nhạc gần cả trăm năm qua, có bao nhiêu nhạc sĩ thành danh dựa trên dân ca cổ truyền Việt Nam? Con số ấy cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi!

Tôi không phải là một nhạc sĩ, thậm chí cũng chưa phải là một người nghe nhạc nghiêm chỉnh! Mỗi năm tôi mở loa lên để thực sự nghe nhạc không đến… chục lần! Nhưng có thể nói tôi là một người nghe khó tính, rất khó tính! Và đơn giản là… dân ca, âm nhạc cổ truyền Việt Nam không hề đơn giản một chút nào. Cảm, hiểu được tất cả những sự phong phú đa dạng của nó, để từ đó thoát thai, sáng tạo nên những điều mới… còn khó hơn lên trời! Mà có cảm giác như cái thế hệ có cái khả năng làm được điều đó đã khuất núi hết cả rồi, giờ chẳng còn ai đâu. Tôi than thở cũng không để chỉ trích ai cả, chỉ là cảm thấy cái “generation continuity”, tính kế thừa, kế tục giữa các thế hệ rõ ràng là đang, nếu không muốn nói là đã chết!

Với những gì ít ỏi còn sót lại, không khéo lớp trẻ sau này sẽ nghĩ rằng cắt nửa vầng trăng tôi làm con đò nhỏ chính là dân ca Việt! Nhưng đó còn là khả năng tươi sáng, tệ hơn thế, không khéo nhiều người sẽ nghĩ rằng một số loại nhạc ung nhọt của xã hội, những thứ bệnh hoạn, quái thai ngâm giấm của thời những năm 60, 70 của thế kỷ trước chính là nhạc cổ truyền Việt! Thực ra tôi nghĩ rằng giới chuyên môn thừa sức hiểu những vấn đề như thế, nhưng vì các động cơ chính trị, kinh tế, xã hội, vẫn cứ tiếp tục mị dân, vờ vịt, bằng cách này hay cách khác. Nói như Trịnh Công Sơn: Em chưa thấy quê hương thanh bình, em chưa biết xưa kia Việt Nam, em chưa hát ca dao một lần… đến tận bây giờ vẫn đúng lắm thay!

 

Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh, Tết Bính Thân, 2016



thị dân ca – phần 3

ó hôm ngồi nói chuyện với một người về Phạm Duy (PD), huyên thuyên đủ điều, hỏi: thế anh thích nghe những bản nào của PD, đáp: uh, thì Cây đàn bỏ quên, hỏi tiếp: rồi còn gì nữa?, ú ớ không trả lời được ⇐ Loại 1: chỉ lặp lại như con vẹt một số điều mà người khác mớm cho nói chứ chưa thật sự tìm hiểu bao giờ, đây là loại thô thiển nhất. Dưới đây tôi sẽ chỉ ra thêm một vài cách nữa, để phân biệt loại thực với loại “giả cầy”. Một hôm khác: tôi thích nhạc của Văn Cao, với một số người nữa như Vinh Sử, Chế Linh, đứng dậy bỏ về không một lời giải thích! ⇐ Loại 2: không phân biệt được nhạc hay với loại nhảm nhí, tầm phào, cũng chỉ là nghe tán láo ở đâu đó, trường hợp này cũng không có gì phải bàn cãi !

Loại 3, hỏi: anh cảm thấy thế nào về bài ABC của nhạc sĩ XYZ?, trả lời: uh, thì lời ca thế này thế kia!, cũng đứng dậy đi về không cần giải thích! Nó thế này nhé, giả sử một cô gái cực kỳ xinh đẹp đang đi đến, hỏi anh thấy cô gái thế nào, thì anh lại khen cái áo cô ấy mặc đẹp, anh không thấy được gì khác bên dưới cái áo sao!? 😀 Loại 4: tôi thích dân ca của PD, kiểu như: Nước non ngàn dặm ra đi, Phố buồn… Tôi cười thầm trong bụng, PD ông rất khéo, bày ra một vài bài nhạc thuộc loại “easy listening”, cố tình gây cho anh cái ảo tưởng sai lầm, để cho anh được thoả mãn: ah, ta đã biết rồi, PD là như thế! Tốt hơn nên như thế, chứ có trình bày các khía cạnh tinh tế trong âm nhạc của ông thì anh cũng đâu có hiểu!

Loại 5: tôi thích Trần Văn Khê, nhất là 6 câu vọng cổ Nam bộ, hỏi: thế anh thích cái gì ở dân ca Bắc bộ?, đáp: tôi không quan tâm! ⇐ không có một sự thông hiểu truyền thống thực sự nào mà lại bo bo thủ cựu, không dám chấp nhận sự khác biệt, nhất là ở ngay cùng trong một nước. Loại 6: tôi mê dân ca Việt Nam, hỏi: thế anh còn thích dân ca nước láng giềng nào khác? đáp: tôi không biết! ⇐ không có một sự hiểu biết truyền thống đích thực nào mà không dám học hỏi cái mới, chỉ lặp lại những điều sáo rỗng như con vẹt. Và đã thấy có muôn ngàn loại khác, tất thảy đều không cần đến 3 giây để nhận ra! Đôi điều về “thị dân” và “thị dân ca”, có ai thấy chúng ta có quá nhiều loại “giả cầy” không nhỉ!? 🙂



thị dân ca – phần 2

hưng như thế nào mới gọi là “thị dân” và “thị dân ca”!? Một số người tự tạo cho mình cái vỏ bọc “thị dân” và trong chuyện đấy cũng có nhiều thứ hay ho thú vị. Phải có cái gì đấy “cũ kỹ”, “vintage”, vương bụi thời gian… thì mới có thể trở thành một… Saigonese, hay một… Hanoist được. Đầu tiên ví dụ như là một chiếc xế cổ, như là xe Vespa cổ. Cũng có lúc tôi muốn có một chiếc, nhưng nghĩ đến cảnh xe đạp không nổ, hư hỏng vặt, phải sửa chữa liên tục nên nản, bèn thôi không ham. Kế đến là thú chơi nhiếp ảnh, dày công sưu tập body, lens các kiểu, từ Lomo, Minolta cho đến Leica, etc… Với “nhiếp ảnh gia” loại “point & shoot” như tôi, không muốn đầu tư hay công phu gì, thì một chiếc Sony Nex 5 cũng đã là quá pro rồi.

Rồi thì gì nữa? Cũng đã có lúc tập tành đĩa thanmáy chơi đĩa nhạc, nhưng tôi không quá quan tâm đến các kiểu âm thanh mộc, analog bằng việc sưu tầm cho được những đĩa nhạc quý, hiếm, ví dụ như một số đĩa rất hiếm của Thái Thanh. Cái việc tập tành để trở thành “thị dân” ấy, nó công phu, nhiêu khê, nhiễu sự lắm, ví dụ như cà phê là phải loại này loại kia, phòng trà ATB dạo này có tiết mục gì mới, nhạc sống ở quán Acoustic tuần sau có điều gì lạ, etc… Kể ra để thấy con đường cố gắng trở thành thị dân của tôi “thất bại” hết tập này đến tập khác. Và cũng đúng thôi, tôi khó có thể trở thành thị dân được, vì chính xác là: cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn, lại trích dẫn Nguyễn Huy Thiệp đấy! 😀

Cách dẫn dắt câu chuyện của tôi nãy giờ có ai nhận ra điều gì không ổn không!? Thực ra thị dân là không vứt rác ra đường, xếp hàng không chen lấn, thị dân tức là đi đường không bia rượu, tuân thủ luật giao thông, khuya về không nẹt pô làm phiền hàng xóm… và rất rất nhiều chuyện khác. Chứ đâu có phải là xe Vespa cổ, máy ảnh đắt tiền này nọ!? Phải xin lỗi các bác có các thú chơi kể trên, vì chơi cái gì cho nghiêm chỉnh, công phu cũng đều đáng quý. Chỉ tại thời buổi bây giờ có nhiều kẻ mạo danh, bày vẽ, học đòi hình thức nên đôi khi cũng bức xúc một chút! Những điều về “thị dân” ấy kể cũng là hiển nhiên, còn những điều về “thị dân ca” thì khó diễn tả hơn một chút, nhưng cũng không phải là quá khó để hiểu!



thị dân ca – phần 1

hững năm loanh quanh 20 tuổi (nghĩa là rất nhiều năm trở về trước), tôi rất thích nghe nhạc rock. Nhưng rock là một khái niệm chung chung gồm đủ thứ loại hùm bà lằng trong đó, riêng tôi thì thích một số nhóm nhạc như Green Day, Red Hot Chili Peppers… những thứ đại loại như thế. Và cũng phải nói cho nó rõ ràng, trong cái nhìn của tôi, những thể loại như power metal… suốt ngày lảm nhảm về nhà vua, công chúa, hiệp sĩ giết rồng… so với các thể loại ngôn tình hay game võ hiệp hiện nay mà giới trẻ đang đọc, đang chơi… về tinh thần thì chúng có khác chó gì nhau!? Thế nên cũng gọi là nghe, thích rock, nhưng tôi nhìn 95% những đứa nghe rock khác như người ngoài hành tinh, chả liên quan gì đến nhau!

Nói thật là thích Green Day, Red Hot Chili Peppers lắm lắm. Tự nghĩ ra một cái thể loại gọi là… “thị dân ca” để miêu tả, phân loại những phong cách nhạc đó. Dĩ nhiên chỉ là một sự đặt tên mang tính cá nhân, không có gì là chính xác, nhưng trong cách hình dung của tôi, “thị dân ca” tức là… dân ca viết dành cho người thành thị. Nghĩa là vẫn mang dân ca trong âm hưởng, trong gốc rễ, nhưng không phải là nông thôn nữa rồi. Nhưng cũng không hoàn toàn là thành phố theo kiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Một nơi mà 4 thành viên của nhóm nhạc The Beatles có thể thản nhiên băng qua đường (là tôi nói cái bức ảnh nổi tiếng ấy đấy), mà không phải nhìn trước nhìn sau dè chừng xe tông. Đấy, đại loại là như thế!

Dĩ nhiên là tôi còn thích nhiều thể loại nhạc khác nữa, rock có, cổ điển có, dân ca có, phương Tây có, Đông phương có, Việt Nam có, trãi khắp từ thái cực “chỉ có tiết tấu” đến thái cực “chỉ có giai điệu”, có lời lẫn không lời, mỗi thứ một tí, etc… chuyện nghĩ cũng là bình thường. Một hôm, có một người con gái hỏi tôi: thế anh thích thể loại nhạc nào nhất?, đáp: nhiều lắm em à!, hỏi tiếp: nhưng phải có cái gì là nhất chứ!?, đáp: nhạc nó cũng giống như gái thế em à!, tiu nghỉu: thôi, vậy em hiểu rồi! 🙂 . Đấy đại khái cái tuổi trẻ với âm nhạc của tôi nó như thế, bao đồng, dông dài một chút để… làm cái mở bài cho bài viết dài hôm nay. Mà cũng chưa biết chính xác là sẽ viết cái gì về chủ đề “dân ca” và “thị dân ca”.



bắc hành, 2016, phần 50

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền, xin ghé bến hoang sơ.

ết thúc loạt 50 bài viết, cũng là 50 ngày đêm xuôi ngược của hành trình núi cao ta trông, đường rộng ta đi. Ban ngày thì đi đây đó ghi hình ảnh, ban đêm về ghi chép, rất nhiều tư liệu của riêng tôi về các vùng đất, con người khác nhau. Thực ra, những gì thấy trên blog này… chỉ là phần nổi của tảng băng, không đến 1/10 của những gì tôi ghi chép hàng ngày.

Khoảng 8000 km hành trình, đi rất chậm, trung bình mỗi ngày chỉ 180 km, đi chậm như thế thì mới có thời gian để ngó nghiêng, quan sát được. Cũng như bao hành trình khác, nhiều lúc mệt mỏi, có lúc chán nản, đôi khi bực mình với những chuyện xảy ra dọc đường… Chặng đường ta đã đi qua, hiếm hoi mới gặp đóa hoa thắm hồng, ngẩng đầu lên hỏi mênh mông…

Rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau đã trải qua, những “cổng trời” ở các vùng miền núi phía Bắc, những cung đường đèo chênh vênh, vắt vẻo, những địa danh lịch sử chỉ mới đọc qua sách báo, và những con người, như là “hoa thơm quả ngọt” của các vùng đất ấy. Những ngày rét đến gần 0 ℃, những chiều mưa tầm tã, những sớm mù sương phủ kín trời…

Đến hôm nay đường xuôi về biển, những khung cảnh tuyệt đẹp dọc hàng ngàn km bờ biển, cách duy nhất để thực sự trải nghiệm chúng một cách kỹ càng, “trên từng cây số” là phải đi bằng đường thuỷ. Chào năm mới 2016, nên nhớ 2016 là năm nhuận, thế có nghĩa là, tôi sẽ có thêm một ngày để vui sống, để đi chèo thuyền, để đùa giỡn cùng sóng nước! 🙂

bắc hành, 2016, phần 49

hong thả dạo quanh thành phố Quy Nhơn, đầm Thị Nại, ghềnh Ráng, rồi theo quốc lộ 1D bám sát biển đi thị xã Sông Cầu. Từ đây vào đến Khánh Hoà có rất nhiều đầm phá, vịnh biển: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, vũng Rô, ghềnh Đá Đĩa, vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, vịnh Cam Ranh… cảnh quan núi đèo, biển cả, cù lao… nhìn đến là thích mắt.

Những đầm phá ven biển thế này rất thích hợp nuôi trồng thuỷ hải sản, và người dân vùng này cũng dần dần sống khấm khá hơn nhờ các nghề đó. Đánh bắt xa bờ chỉ có tập trung ở những cảng lớn mà thôi. Thanh bình nhất là khung cảnh rất nhiều con thuyền nho nhỏ tụ tập về trong một vịnh biển, tất cả buông neo theo chiều gió, đậu san sát bên nhau.

Cuộc sống trong những xóm chài, so với ký ức xa xưa thời còn nhỏ của tôi, cũng chưa khác đi là mấy. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, những người đàn ông trở về trên những con thuyền nhỏ, bữa cơm, chai rượu, và phim chưởng Hồng Kông, phim tình cảm sướt mướt Đài Loan inh ỏi khắp xóm. Những người phụ nữ nếu không làm cá, làm mắm hay việc nhà…

Thì cũng tụ tập chơi bài, chơi tứ sắc, buôn chuyện… trong lúc chờ chồng và thuyền về. Thực ra cuộc sống cũng vẫn như thế, muốn khác chăng thì phải khác từ cái suy nghĩ của chính mình, bất giác nhớ lại một vài câu thơ cũ: đâu những đường con bước vạn đời, xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi, giữa dòng ngày tháng âm u đó, không đổi nhưng mà trôi cứ trôi…

bắc hành, 2016, phần 48

on đường Nam tiến tiếp tục đi qua những vùng một thời đã quen biết… Tất cả đang thay đổi với một tốc độ chóng mặt, những thị trấn, thị xã, thành phố mới liên tiếp mọc lên… Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn… bây giờ đều đã là những thành phố khá lớn. Cứ như thế này thì miền Trung cũng sẽ sớm đất chật người đông chẳng khác gì đồng bằng Bắc bộ.

Những con đường quen thuộc từng đi bây giờ chẳng thể nào nhận ra, cùng với tốc độ xây dựng, đô thị hoá, thì tôi cũng nhận thấy, con người cũng đang đổi thay nhanh chóng, cái “khoảng cách thế hệ” cứ thế mà tăng dần, xa dần. Nhiều khi tôi cũng không hiểu những người trẻ đương thời đang nghĩ gì trong đầu nữa, nhưng thôi, đó là chuyện của tụi nó!

Quy Nhơn, tức là… người về… uh thì người sắp về, hành trình đang đi vào những đoạn cuối 🙂 ! Từ đây trở vào Nam, cảm thấy không còn nhiều cảm hứng để chụp ảnh và viết bài nữa. Đi tức là để nhìn thấy và tiếp thu những điều mới lạ. Nhưng lúc này đây, tôi lại đang có cảm giác, đi là để thấy rằng, quê choa một dải, từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau…

Có biết bao nhiêu điều tươi đẹp, có những dân tộc, con người, những văn hoá không giống nhau. Đi là để xác nhận lại những điều trước kia ta đã biết, nhưng chưa được rõ ràng lắm. Nhưng đồng thời, đi cũng là để, nhìn thấy từ một góc độ nào đó, quê choa là một vùng đất chật chội, với rất nhiều vấn đề của riêng nó, và thực ra… ta cần điều gì đó rộng lớn hơn thế!

Chặng 48: Hội An ⇒ Tam Kỳ ⇒ Chu Lai ⇒ Quảng Ngãi ⇒ Mộ Đức ⇒ Đức Phổ ⇒ Tam Quan ⇒ An Nhơn ⇒ Quy Nhơn

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

Lạng Sơn, 2016

Bắc Ninh, 2016

Ninh Bình, 2016

Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành, 2016, phần 47

Neo buông sâu như những sợi tơ lòng,
Thuyền lớn nhỏ đều chứa đầy hy vọng.
Thuyền ra đi, bến đã động lòng thương,
Ai phăng neo vội vã để đoạn trường?

uốt dọc miền Trung, làng mộc Kim Bồng (xã Cẩm Kim, thành phố Hội An) ngày xưa từng là một trung tâm đóng ghe tàu danh tiếng. Hội An thì đã quá quen thuộc rồi, ghé qua lần này chỉ để biết rõ hơn về làng Kim Bồng, bây giờ đa số đã chuyển sang làm mộc gia dụng, gỗ trang trí, đi khắp cả làng đếm không đến chục chiếc thuyền lớn nhỏ đang đóng mới.

Đây rồi những hình thuyền trong giấc mơ tuổi nhỏ của tôi! Nhưng không chính xác là những thân thuyền truyền thống, thon dài để lợi sức gió, sức chèo như trước, bây giờ chỉ toàn xài máy. Cũng những hình thể đó, nhưng ngắn lại và mập ra để tăng tải trọng. Việc đóng hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm, không bản vẽ, không công thức, không khuôn mẫu nào cả!

Theo như chính người làng nói, thì giới thợ trẻ bây giờ chỉ làm mộc gia dụng, dể có việc, dể kiếm tiền. Đóng thuyền chỉ còn sót lại ít người tuổi trung niên trở lên, khó có đơn hàng, dù đơn hàng cũng thường lớn tiền hơn. Nhưng quan trọng là đóng thuyền cực khổ, đòi hỏi thể lực, kinh nghiệm, còn giới trẻ chỉ muốn công việc nhàn hạ, kiếm tiền nhanh chóng.

Lang thang khắp một vùng cửa Đại, hạ lưu sông Thu Bồn, đây đó vẫn còn có thể tìm thấy những mẫu hình thuyền theo đúng truyền thống, những hoài niệm xưa cũ… mấy ai là người hiểu và cảm được!? Quê choa một dải, từ cửa Hàn cho đến cửa Đại, từ núi Sơn Trà cho đến cù lao Chàm, đây đó vẫn luôn còn nhiều điều thú vị cho những ai để tâm tìm hiểu!