bắc hành, 2016, phần 41

uốc lộ 10 chạy từ Kim Sơn đi Nga Sơn đi qua đền thờ Mai An Tiêm, nằm bên cạnh một vòng cung núi đá vôi rất đẹp. Lộ 10 nhập vào quốc lộ 1A một đoạn chưa xa thì đến đền thờ Bà Triệu, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá. Con đường xuôi Nam lần này sẽ sát biển nhất có thể, một phần để quan sát, tìm hiểu phục vụ cho những dự tính xa xôi hơn trong tương lai…

Phổ biến ở những vùng biển Thanh Hoá này là những chiếc thuyền đi biển nhỏ, đan bằng nan tre, xảm dầu rái, hay những chiếc mảng lớn hơn một chút, đóng bằng luồng, một loại tre dài. Tôi đến tận nơi để xem cách họ đóng, sửa chữa thuyền bè… kỹ thuật chế tác gỗ rất thô sơ, vụng về, sử dụng những phương pháp chẳng tiến bộ hơn… thời kỳ đồ đá là mấy.

Các cây luồng được buộc lại với nhau bằng những sợi cước nhựa, kẹp vào giữa là nhiều lớp mút (xốp). Quan sát từ thiết kế con thuyền cho đến kỹ thuật đóng tàu… những phương tiện này chẳng thể nào đi biển xa một cách nghiêm chỉnh, an toàn được. Thật đáng buồn khi thấy từ trăm năm trước đến trăm năm sau, về cơ bản, vẫn chưa có điều gì là thay đổi!

Ngay các trung tâm nghề cá phát triển như Đà Nẵng, Vũng Tàu… những con tàu lớn đóng với ván đáy dày 20 cm, vẫn không bền hơn được một con tàu tương tự của Thái Lan với ván đáy dày 5 cm. Phải nói thẳng ra rằng người Việt không muốn thay đổi và không chịu thay đổi, chứ còn về kỹ thuật, những điều này chẳng có gì là khó khăn hay phức tạp cả! 🙁

bắc hành, 2016, phần 40

ỏ ra một ngày suốt từ sáng đến chiều để quan sát các điêu khắc đá và gỗ ở nhà thờ chính toà Phát Diệm. Được xây dựng bởi cha Phêrô Trần Lục (ảnh 3), một người tuy được thụ phong linh mục nhưng chưa bao giờ theo học ở một chủng viện nào khác ở ngoài Việt Nam, và cũng không phải là có kiến thức chuyên biệt về kiến trúc hay mỹ thuật phương Tây.

Nhưng như còn lại đến ngày hôm nay, nhà thờ chính toà Phát Diệm có thể được xem như một sự phát triển độc đáo và riêng biệt của kiến trúc cổ truyền Việt Nam… theo đường lối Công giáo. Trong lịch sử từ xa xưa, tôn giáo đã luôn luôn là động lực lớn để đoàn kết, tập hợp nhiều con người, xây dựng nên những công trình kiến trúc, điêu khắc lớn lao, kỳ vĩ.

Nhưng lịch sử Công giáo ở vùng đất Phát Diệm, Ninh Bình này là một quá trình phức tạp, tôn giáo cũng chỉ là một trong những yếu tố gây nên cách biệt, mâu thuẫn, lồng ghép trong những mâu thuẫn cục bộ địa phương, mối quan hệ giữa địa phương với chính quyền, và sâu rộng hơn, là sự cọ xát giữa các nền văn minh khác nhau (clash of civilizations).

Con đường xuôi Nam tiếp tục đi gần hơn về phía biển, Nga Sơn, Hậu Lộc, Quảng Xương, Thanh Hoá… nghe trong hơi gió đã thoáng mùi muối mặn, và những ngữ âm địa phương đã dần xoắn lại, bớt mềm mại hơn, có lẽ vì… muối 🙂 . Ðâu trúc mai sân đình, đâu dáng ai ưa nhìn, động lòng tôi câu hát người xinh… – Mái đình làng biển – Nguyễn Cường.

bắc hành, 2016, phần 39

ố cục khuôn viên gồm một hồ nước lớn phía trước, phương đình (đồng thời là lầu chuông, gác trống), nhà thờ chính và 4 nhà thờ nhỏ hơn nằm hai bên, cùng với một nhà thờ nhỏ xây toàn bộ bằng đá. Nhà thờ chính có 48 cột gỗ lim cao đến 11 m (chỉ sau điện Thái Hoà), rất cao so với kỹ thuật xây dựng đương thời, tạo nên một không gian giáo đường cực rộng.

Đến Phát Diệm là để xem mỹ thuật của điêu khắc đá, thật sự là tinh vi và tuyệt đẹp. Các tượng thiên sứ được Việt hoá, phảng phất nét người Việt trên khuôn mặt. Nhưng điêu khắc gỗ nội thất mới thực sự là đỉnh điểm tài hoa và đẹp đẽ ở ngôi giáo đường này. Có thể nói không đâu khác ở Việt Nam mà điêu khắc gỗ đạt đến mức phức tạp, tinh vi, kỳ tài như thế!

Thật tiếc là không phải gian thờ nào cũng mở cửa cho du khách vào thưởng lãm, nên tôi cũng chỉ chiêm ngưỡng được phần nào các điêu khắc gỗ. Một số nơi, thời gian, chiến tranh đã tàn phá rất nhiều trang trí mỹ thuật. Và Phát Diệm đang chịu sự huỷ hoại dần dần theo thời gian do xây dựng trên nền đất yếu, các công trình dần bị nghiêng, xô lệch.

Chính giữa phương đình có xây một bệ tam cấp đá rất lớn, tương truyền là để dành cho quan lại địa phương (quan nhà Nguyễn) ngồi giám sát mỗi khi giáo dân hành lễ. Phải đến và xem, thì mới hiểu được, một thời, đạo pháp và dân tộc đã được hội nhập, biến hoá và dung hoà, đã đạt tới những trình độ nghệ thuật mà có lẽ thời bây giờ không thể bằng được!

bắc hành, 2016, phần 38

ột di tích rất quan trọng muốn viếng thăm trong chuyến Bắc hành năm ngoái nhưng chưa làm được, đó là nhà thờ chính toà Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình. Đường về vùng đất khai hoang lấn biển đi qua khu nhà tưởng niệm cụ Nguyễn Công Trứ, người có công lớn trong việc di dân khai hoang lập nên hai huyện mới: Kim Sơn và Tiền Hải (núi vàng & biển bạc).

Và cũng là người đặt nên cái tên Phát Diệm (Diễm) (1829). Cũng không phải ngẫu nhiên mà đương thời, một vùng đất vừa mới thành lập chưa lâu trở thành một trong những chiếc nôi của Công giáo Việt Nam, với nhà thờ chính toà Phát Diệm có thể xem như là nhà thờ đẹp nhất Việt Nam. Được khởi công xây dựng năm 1875 và cơ bản hoàn tất năm 1898.

Tuy là nhà thờ Công giáo, nhưng nhà thờ chính toà Phát Diệm chỉ hơi phảng phất nét kiến trúc Tây phương, hầu hết các yếu tố cấu thành đều mang đậm dấu ấn kiến trúc đình chùa Việt Nam. Phương đình (cổng chính) có bức hoành chữ Hán đề: Thánh cung bảo toà, mái cong lợp ngói như mái chùa, kiến trúc cột kèo cũng là đặc trưng của đình, đền Việt Nam.

Ngay cả tiếng chuông cũng nghe trầm ấm, gần giống với tiếng chuông chùa. Các chủ đề điêu khắc trong chùa phổ biến có: long, lân, quy, phụng, tùng, trúc, cúc, mai… thậm chí tượng Đức Mẹ ôm Chúa hài đồng cũng mặc áo dài với khăn đóng. Có rất nhiều yếu tố kiến trúc, điêu khắc được Việt hoá triệt để, nhiều người đã nhận xét nó giống một ngôi chùa hơn là nhà thờ.

bắc hành, 2016, phần 37

hùa Bút Tháp nằm đối diện Phật Tích, phía bên kia sông Đuống, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Nhưng phải đi dọc triền đê chừng 7, 8 km lên đến cầu Hồ, qua sông rồi quay ngược lại. Đây là ngôi chùa mà tôi thích nhất, những tượng gỗ rất đẹp, các vị La Hán mang sắc diện Việt Nam rất chi đời thường. Có cảm giác rằng phải nhỏ nhắn, xinh xắn mới là Việt!

Ghé thăm lăng Kinh Dương Vương, được xem là ông vua thuỷ tổ của người Việt, nằm cạnh bờ sông Đuống. Phía trước có cái bia nhỏ đề Hạ mã (hình đầu tiên dưới đây). Đầy đủ phải là Khuynh cái, Hạ mã: nghiêng lọng, xuống ngựa, kiểu gần giống như bây giờ là: xuống xe, tắt máy, xuất trình giấy tờ vậy 🙂 ! Ghé thăm chùa Dâu và vết tích thành cổ Luy Lâu.

Cảm thấy có cảm tình quyến luyến với vùng đất, con người Thuận Thành này, chẳng phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Quang Dũng (Tây Tiến) viết: Nhớ mưa Thuận Thành, long lanh mắt ướt, và những vùng quan họ khác dọc đôi bờ sông Đuống. Đây có thể xem là vùng đất “cổ nhất” Việt Nam, các di tích lịch sử dày đặc, nhiều không kể xiết, tất thảy đều rất lâu đời:

Tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kỵ, di tích chùa Trăm Gian, đình Quang Đình, đình Ngô Xá, đình Ngọc Quan, đình Tam Tảo, chùa Phúc Lâm… Chỉ có thể cưỡi ngựa xem hoa mà thăm lấy vài nơi tiêu biểu. Đôi điều rất đáng suy nghĩ về vùng đất quan họ lâu đời Bắc Ninh, khi là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, nhưng thu nhập bình quân đầu người lại cao nhất nước!

bắc hành, 2016, phần 36

au đình Bảng là đến đền Đô (lại là những địa danh đơn âm), đền thờ 8 vua triều Lý. Đền Đô toạ lạc trên một khuôn viên rộng lớn, có bố cục tổng thể rất đẹp. Bi đình lập từ thời vua Minh Mệnh, bia viết: Lý triều chư hoàng đế. Thuỷ đình rất đẹp nằm giữa một hồ nước bán nguyệt lớn. Tấm hoành chính điện đề: Lý triều bát đế, và bức tiếp theo đề: Cổ pháp vĩnh truyền.

Cổ Pháp cũng là tên chữ của làng. Tự dưng đặt câu hỏi cái chữ ‘cổ’ (trong: Cổ Loa, Cổ Bi, Cổ Pháp…) và chữ ‘kẻ’ (Kẻ Bàng, Kẻ Vang, Kẻ Chợ…) có phải từ một gốc mà ra!? Thực sự là mãn nhãn với cái bố cục đẹp của ngôi đền, chứ nếu đi vào chi tiết từng chữ Nho, từng nét thư pháp thì vẫn chưa vừa ý, vì ngôi đền bị phá huỷ nghiêm trọng trong kháng chiến 9 năm.

Và được trùng tu tôn tạo lại gần như toàn bộ trong những năm cuối 80, đầu 90. Đình chùa đầu năm đông không thể tả, không chỉ ngột ngạt khó chịu cho người du ngoạn, mà cũng chẳng thể nào chụp được một bức ảnh cho hoàn chỉnh! Sang đến chùa Phật Tích thì thấy biển người nườm nượp chen vai thích cánh nhau đi chùa, nhìn là đã không muốn vào.

Chùa Phật Tích cũ nổi tiếng với nhiều điêu khắc đá rất đẹp, nhưng tôi chẳng thể nào tham quan được gì khi mà người đi chùa cứ vai sát vai thế này. Trên đỉnh là toà tháp và bức tượng Phật lớn, được xây mới trong vài năm đổ lại đây, nhìn cũng khá hoành tráng. Chợt nhớ ra, ngôi chùa trên đảo VinPearl, Nha Trang chính là xây theo nguyên mẫu chùa Phật Tích này.

bắc hành, 2016, phần 35

ình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh có lẽ là ngôi đình lớn nhất Việt Nam còn tồn tại đến ngày hôm nay, lớn hơn hẳn đình Mông Phụ, Đường Lâm tôi đã ghé thăm trong chuyến Bắc hành năm ngoái. Đình xây theo hình thể chữ đinh, điểm đẹp nhất là mái đầu đao vươn xa, tạo nên bố cục rộng lớn. Nhìn kỹ, sẽ thấy hai con lân chầu ở cửa đình… không giống nhau.

Không phải là một cặp cân xứng giống hệt nhau, mà mỗi con lại là một điêu khắc khác biệt. Điều thú vị trong kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật Việt là ở chỗ này chỗ kia, bạn lại bắt gặp một chi tiết gì đó phá cách, bất thường, không tuân thủ theo những quy tắc phổ biến. Như tượng con đá chó phía sau ngôi đình cũng là một điều đặc biệt, tự nhiên, không ước lệ.

Những điêu khắc gỗ trong đình còn lại không quá nhiều, cũng như những điêu khắc đá mới bổ sung, tôn tạo sau này, cùng với những chiếc đèn lồng đỏ nhìn… lạc tông, không đồng điệu. Nhưng ít ra chúng ta còn có được một công trình tương đối hoàn thiện, để biết được rằng kiến trúc Việt ngày xưa như thế nào, trải qua bao thăng trầm của chiến tranh và thời gian.

Nếu như ai đó nghĩ rằng kiến trúc Việt, từ dân gian, đình chùa đến cung đình đều chỉ be bé, xinh xinh, không có gì quá vĩ đại thì… thực ra đúng là như thế. Khắp cả Bắc, Trung, Nam, kiến trúc Việt còn kém đặc sắc so với kiến trúc Lào, Campuchia. Nhưng mặt khác, các bạn cũng hãy bớt xem phim Tàu đi, mà nhìn rõ trên quê hương chúng ta còn lại những gì.

bắc hành, 2016, phần 34

ừ Lạng Sơn qua Bắc Giang, Bắc Ninh về Hà Nội theo quốc lộ 1A, con đường đi trong một “thung lũng” rộng nằm giữa hai dãy núi, càng lúc càng hẹp dần, thắt lại như một cái cuống phễu ở quá thị trấn Chi Lăng một chút. “Ải Chi Lăng” bây giờ chỉ là đôi bờ kè đá nhỏ đánh dấu chỗ hẹp nhất đó. Từ đây bắt đầu vào địa phận tỉnh Bắc Giang đã hầu như là đồng bằng.

Qua thị trấn Lạng Giang, Bắc Giang, nhác thấy một cái biển nhỏ xíu đề: Đoàn An Lão (1 km). Thế nghĩa là E2, F3 (và thực tế là toàn bộ F3) đang đứng chân ở cái thị trấn nằm ngay sát tỉnh Lạng Sơn này, hơi lùi sâu vào nội địa một chút so với điều tôi nghĩ. Và ở đây cũng có dấu hiệu của ít nhất một vài F lẻ khác, không trực thuộc Quân đoàn 2 Hương Giang.

Những địa danh đơn âm đến mức tối thiểu: Vôi, Kép, Lim, Dâu, Đô… những miền đất rất cổ của người Việt. Qua sông Cầu (sông Như Nguyệt), ranh giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Từ đây, có thể thấy đồng bằng Bắc Bộ đang bị đô thị hoá cao độ, các thị trấn nằm san sát nhau, và ngay cả một số làng xã nông thôn nhìn cũng chẳng khác gì phố thị.

Bắc Ninh, Kinh Bắc, Hà Bắc… tên qua những giai đoạn khác nhau, nhưng đều ám chỉ nơi đây, vùng đất phía Bắc, rất gần, chỉ khoảng 20 ~ 50 km tính từ thủ đô Hà Nội. Có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá ở vùng đất có lịch sử lâu đời nằm ngay sát kinh kỳ này. Dừng chân ít ngày, thăm thú một số nơi, trước khi bỏ qua những vùng đất đã biết để đi suốt về Nam.

bắc hành, 2016, phần 33

ẫu Sơn, huyện Lộc Bình, cách thành phố Lạng Sơn tầm 30 km, sát với biên giới Trung Quốc. Tuy không quá cao, chỉ khoảng 1500 m, nhưng khí hậu luôn mát lạnh quanh năm. Thực ra có đến hai đỉnh núi nằm cạnh nhau, ngọn thấp hơn vẫn thường gọi là Mẫu Sơn, một đỉnh cao hơn nằm ngay kế bên cạnh (Phụ Sơn!? 🙂 ) nhưng chưa có đường cho xe lên.

Một ngày nắng ấm đẹp trời, đường từ chân núi lên tới đỉnh chỉ khoảng 15 km đường bê tông nhựa nhỏ, không khó đi lắm. Tuy vậy, muốn biết về những đường cung đường quanh co uốn lượn đến mức quái dị, hãy lên gần đỉnh Mẫu Sơn sẽ thấy! Từ trên đỉnh nhìn ra bốn phía trông rất ngoạn mục và mãn nhãn, tiếc một điều là núi trọc, tỷ lệ phủ xanh thấp.

Quay trở lại thành phố Lạng Sơn, bên ly cà phê, cuộc trò chuyện với những người “quen cũ”. Thực ra chỉ có người ở lại là sẽ thay đổi, kẻ ra đi chẳng đổi thay bao giờ. Vì hắn đã chủ động “keep moving” liên tục, để cho con người luôn nhìn sự việc từ những góc độ biến động khác nhau, sur les chemins mouvant, thế nên tâm hồn hắn thì vẫn mãi mãi là như thế!

Từ đây về Hà Nội chỉ 154 km đường thẳng, địa hình núi đồi thấp, các bác bên Bộ quốc phòng sẽ luôn có khối chuyện đau đầu về cái sự “defence in depth” ở một khu vực như thế này! Vẫn còn do dự mong muốn đẩy hành trình đi xa hơn nữa, nhưng năm nay tạm bằng lòng với chừng ấy. Chặng áp cuối của hành trình, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội.

bắc hành, 2016, phần 32

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

ấm hình đầu tiên: quả hồi phơi khô, mùi hương nhẹ nhàng nhưng thật khó phai! Thăm động Tam Thanh, coi như là đi chùa đầu năm. Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị họ vừa nung vôi chính thị là nơi đây 🙂 ! Cái lời nhại ca dao ấy thực ra là tương đối chính xác, cái tượng nàng Tô Thị họ mới đắp lại sau này trông rất nham nhở, chả đâu vào đâu!

Thăm động Tam Thanh xem như đi cho có. Thực ra, càng lúc tôi càng có cảm giác người Việt cái gì cũng thích đồ giả, không thích đồ thật. Một quả đồi bé xíu, xây vài bậc tam cấp, vài cái đình bé tí ti, đặt những cái tên hoành tráng: cổng trời, hang địa ngục, bàn tay Phật, etc… Càng như thế, họ càng không hiểu được cái rộng lớn của thiên nhiên, của núi non, biển cả.

Leo lên pháo đài Đồng Đăng, một công trình bê tông ngầm to lớn và đổ nát. Nơi đây, hơn 700 con người, vừa dân vừa lính, đã tử thủ cho đến người cuối cùng, trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh 1979. Pháo đài Đồng Đăng, ở một quy mô nhỏ hơn, nhưng lại bi thảm hơn, cũng giống như pháo đài Brest trong chiến tranh vệ quốc của người Nga vậy!

Chủ khách sạn, một người lính đặc công 73 tăng cường cho mặt trận Lạng Sơn, sau chiến tranh, đã cưới một cô gái Nùng 15 tuổi và định cư ở đây! Hai vợ chồng cực kỳ hiếu khách, thế nên Tết nhất với tôi không phải thiếu gì. Nhưng đôi khi, chỉ cần một bát nước chè, vài hơi thuốc lào… đang tự biến mình thành một anh chàng Bắc cày, Bắc cầy chính hiệu! 🙂