Tại sao kayak!?

ứng viết chơi, giải thích dông dài chút về 4 năm thiết kế, đóng và chèo 4 chiếc thuyền kayak. Bài viết dài này không nhằm mục đích để giải thích cho người khác về thú chơi kayak. Đơn giản là trong suy nghĩ, tôi đã có quá nhiều băn khoăn lựa chọn giữa: paddling, rowing, sailing… đâu là hình thức phù hợp với mình, và phù hợp để cruising, đi những chặng đường thật dài. Viết chỉ để tổng kết kinh nghiệm cá nhân, và để có một cái nhìn cô đọng, chính xác hơn về kayak và kayaking mà thôi.

Trước hết, điều gì đem tôi đến với kayak? Trước hết là sự say mê cảnh sông nước, biển vịnh, đầm phá… những cảnh quan thoáng đãng và rộng rãi (sông cũng có nhiều chỗ rộng, nhưng đến một lúc, bạn sẽ thấy nó chật hẹp). Mà đó phải là loại nước có chuyển động, có dòng chảy, có sóng, có thật nhiều gió máy, chứ tắm ao, tắm hồ thì có gì là thú vị!? Trên cái nền chuyển động ấy, cái bập bềnh của con thuyền, cái động tác nó lướt, trượt, cắt ngang qua những con sóng chẳng phải là tuyệt đẹp đó sao!?

Sông và biển có muôn ngàn sắc thái đổi thay, lúc dịu êm, khi dữ dội, lúc tĩnh lặng, khi dào dạt. Bờ biển sáng tinh mơ có một vẻ tươi sáng tráng lệ, lúc chiều hôm lại có nét trầm lặng sầu u, khi nắng trời thì đẹp lộng lẫy, lúc mưa rơi lại buồn cô tịch. Để chứng kiến muôn ngàn sắc thái ấy, chỉ có một cách duy nhất là làm những hành trình thật dài. Ấy là ta không muốn bỏ sót bất kỳ một trạng thái cảm xúc nào của nó, nếm trải tất cả những sắc thái khác nhau của nó, dù đó là buồn hay vui, tích cực hay tiêu cực.

Nước, ấy chính là nơi khởi nguồn của sự sống, mà cũng chính là sự ẩn dụ về những biến động khôn lường của cuộc sống. Thế nên ai chưa biết bơi thì không cần và không nên đọc tiếp, chẳng ích lợi gì đâu! 🙂 Một lý do quan trọng nữa, khi tôi đến với kayaking, đơn giản là vì tôi thích cái hình ảnh một người (và chỉ mỗi một mình anh ta) đơn độc chèo thuyền hàng trăm (hay hàng ngàn) cây số, vượt qua bao nhiêu sóng gió, thử thách. Nếu bạn không thích cái sự hành xác ấy, thì cũng không cần phải đọc tiếp! 🙂

Mà tại sao lại là chèo, mà không phải là buồm, hay động cơ!? Đơn giản là vì chèo nó có sự nỗ lực, sự cố gắng chiến thắng bản thân. Nếu bạn không thích cái viễn cảnh phải chèo 10 ~ 12 tiếng mỗi ngày, và nhiều ngày liên tục như thế thì cũng không cần phải đọc tiếp! 🙂 Nếu nói về sự khám phá, thì quả đất này đã trở nên quá nhỏ hẹp, hầu như chưa có chỗ nào mà con người chưa đặt chân đến. Nên khám phá theo nghĩa hiện đại, nó “hướng nội” hơn, nó tự quay “vào trong”, đó là khám phá chính mình!

 

 

ôi biết nhiều người “thích nước”, thích theo kiểu mang một con heo sữa quay và chai rượu lên thuyền ra giữa sông ngồi nhậu ấy! Những người như thế, họ không bao giờ hiểu được cái ý nghĩa của sự vận động, hiểu được cái tác động tích cực của chèo thuyền lên tâm sinh lý con người. Chèo thuyền đường trường, vượt qua sóng gió, thử thách, ấy chính là một quá trình chuyển hoá, tự chuyển hoá bản thân thành một con người khác. Có những người thích tự chuyển hoá bằng rượu hơn, không cãi với họ được!

Mà tại sao lại là chèo, mà không phải là buồm!? Buồm là một khung trời khác, có cái đẹp lãng mạn xa vời riêng của nó. Tôi cũng mê buồm, thậm chí là còn mê hơn cả chèo! Chèo chỉ là một anh chàng nông dân thô vụng, bên cạnh quý ông buồm lịch lãm, quý tộc. Nhưng mà “cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn” 😀 , thế nên trong tương lai gần, tôi vẫn thích gắn bó với chèo, buồm là để dành cho một tương lai xa hơn, khi tôi tìm ra được một mục đích hành trình phù hợp với nó!

Nói thế có nghĩa là dù là bơi, chèo, buồm, hay máy, vâng vâng… tất cả chỉ là những phương tiện phục vụ cho hành trình của chúng ta mà thôi. Ấy có nghĩa là bạn muốn có một hành trình như thế nào, mục tiêu phương châm nó là gì, bạn sẽ tìm được cái công cụ đúng để phục vụ cho mục đích ấy! Thuyền như một người phụ nữ đẹp, nhưng cái đẹp ấy vô nghĩa nếu nó không đi cùng ta suốt những hành trình dài, không dùng nó để trải nghiệm hết tất cả những sắc màu khác nhau của cuộc sống!

Bốn năm, cặm cụi thiết kế, đóng và chèo bốn chiếc kayak khác nhau, nhưng đến tận giờ tôi vẫn chưa thấy thật sự hài lòng với bất kỳ chiếc nào. Mỗi chiếc có những ưu điểm, nhược điểm riêng, và tất cả đều có thể được tiếp tục cải tiến để được tốt hơn. Và tôi sẽ còn tiếp tục đóng nhiều chiếc nữa. Ấy là một quá trình “tối ưu hoá” trên một khoảng hẹp, liên tục hoàn thiện, cải tiến. Như thế vẫn tốt hơn là nhảy hết từ loại thuyền này đến loại thuyền khác mà không có được cái cảm nhận sâu sắc nào về chúng!

Nếu như bạn vẫn đang đọc tiếp đến đây, thì sau đây là những giải thích mang tính ngẫu hứng, dông dài, vụn vặt, không có tí hệ thống nào cả. Trước hết, cái chữ kayak không có một định nghĩa chính xác, nó chỉ thực sự hình thành nên một cái gì đó có thể gọi tên, có thể phân loại được trong độ vài chục năm gần đây. Còn trước đó, người ta gọi chung là “canoe”, và thực sự cho đến hiện tại, một số cá nhân thuộc dạng tương đối bảo thủ như ở Anh quốc vẫn gọi nó là canoe chứ không gọi là kayak.

 

 

ói như thế nghĩa là chẳng có ranh giới rõ ràng nào giữa một kayak và một chiếc canoe nhỏ. Những nỗ lực cải tiến thiết kế và trang thiết bị độ 10, 15 năm gần đây đã dần dần dẫn đến chỗ khả dĩ có thể hình thành một định nghĩa chung chung cho cái gọi là kayak. Có một điều khá chính xác, đó là kayak luôn dùng mái chèo đôi (double blade paddle), nhưng còn lại, không có gì có thể định nghĩa rõ ràng rành mạch cả. Người ta dùng “kayak” cho một loạt những hoạt động thể thao khác nhau:

1. Surfing kayak, hay kayak lướt sóng (surf) ven bờ: đây là những thuyền rộng bề ngang, ngắn (khoảng 6 ~ 12 feet) dùng để vượt qua những đoạn nước biến động mạnh. Thân thuyền thường làm bằng nhựa có độ mềm, độ đàn hồi cao để chịu được va đập. 2. Touring kayak: thường có chiều dài 12 ~ 16 feet, ổn định, an toàn, và như tên gọi, thường dùng cho du khách đi vãn cảnh loanh quanh độ vài chục km, thể loại này cũng không phải là một hình thức cố định, cũng có nhiều kích thước khác nhau.

3. Sea kayak: đặc trưng là thân thuyền dài (16 ~ 21 feet), thon gọn (bề ngang thường nhỏ hơn 60 cm), có khả năng cắt qua những con sóng vừa phải, thích hợp để đi đường trường, có thể lên đến hơn 60, 70 km mỗi ngày, linh hoạt, uyển chuyển để phù hợp với hàng loạt những điều kiện sóng gió khác nhau dọc đường đi. 4. Racing kayak: loại này tôi không bàn đến, vì nó hy sinh mọi thứ, độ ổn định, tải trọng để đạt được vận tốc nhanh nhất, nên không có chút giá trị nào khi dùng cho cruising.

5. Surf ski: là một tiến hoá hiện đại nhất, gần đây nhất của sea kayak, thân thẳng, bánh lái nằm dưới đáy thuyền gần đuôi, cockpit mở, chuyên dùng để lướt sóng hay để đua, nhưng tải trọng tương đối hạn chế, cũng không thích hợp cho cruising. Trong loạt bài viết này, chữ “kayak” là ám chỉ đến loại “touring kayak” hay “sea kayak” như sẽ giải thích rõ hơn sau đây. Trong 5 loại trên, chỉ có touring kayak và sea kayak là thích hợp để cruising, thực ra cũng không có biên giới rõ ràng giữa hai thể loại đó.

Khi ta chèo trong môi trường sóng lớn, những thân thuyền có bề ngang rộng thường lắc lư dữ dội, đến mức cảm thấy bất ổn. Ngược lại, những thân thuyền thon gọn, tuy cảm giác ban đầu có vẻ như là kém ổn định, lại cắt, trượt qua con sóng dễ dàng. Nên thuyền chèo trong môi trường biển thường có thiết kế dài và hẹp, và quan trọng là để giảm bớt năng lượng tiêu phí đẩy con thuyền về phía trước. Ấy hầu như là một quy luật chung, và cũng là một lời giải thích hợp lý cho các kiểu thiết kế sea kayak.

 

 

ừ xa xưa, châu Âu đã có những loại canoe nhỏ, hẹp, chèo bằng mái chèo đôi, nhưng họ vẫn gọi đó là canoe. Cho đến khi những mẫu thuyền kayak của người Eskimo, người Inuit “du nhập” vào châu Âu, thời gian đầu nó vẫn chưa được thừa nhận chính thức. Có vẻ như người châu Âu đã nhận ra ưu điểm của loại thuyền mới này (gọi đúng theo phiên âm thổ dân phải là qajag), nhưng vẫn “ngoan cố” sửa những chiếc canoe của họ cho dài hơn, hẹp hơn, chứ chưa chịu cho kayak một “danh phận” chính thức! 🙂

Thế nhưng, phải đến khi có những tiếp xúc, những bản tường trình, báo cáo “tai nghe mắt thấy” về cái cách những người thổ dân Inuit, Eskimo, Aleut, Greenland… dùng thuyền kayak để đi săn hải cẩu, thực hiện những cuộc hành trình kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần, băng qua những vùng biển băng tuyết lạnh giá, trong những điều kiện thời tiết bão tố, sóng to gió lớn đến mức “không tưởng” thì người châu Âu mới bắt đầu có những cái nhìn khác đi, nghiêm túc hơn về loại thuyền này.

So với rowing canoe, kayak không thể nhanh bằng, cũng không thể chở nhiều hàng hoá bằng, và có vẻ như nó cũng không an toàn bằng, khi chiếc thuyền quá bé, và vị trí ngồi gần như là sát mặt nước. Thực ra xét ra trên mọi phương diện, kayak chẳng có gì nổi trội hơn các loại thuyền khác. Nhưng những bằng chứng về khả năng sống sót trong môi trường biển động, khả năng vượt qua những chặng đường dài trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm cái nhìn của người phương Tây thay đổi.

Đành rằng sống sót và tiến lên phía trước, điều đó phụ thuộc phần lớn vào khả năng của người chèo, và những tộc người Aleut, Eskimo… nổi tiếng là những con người dẻo dai, sắt đá, điều đó là do môi trường sống tôi luyện nên. Nhưng phần khác, từ góc độ kỹ thuật, cũng là do thiết kế của con thuyền. Mỗi chiếc kayak đều được đóng sao cho sít sao, phù hợp với người chèo nó, kiểu như ta phải đo chân để đóng giày cho vừa vậy. Cho đến hiện tại, người Inuit vẫn đóng kayak theo những thước đo “không giống ai”.

Họ có những “cách đo lường sinh trắc học”, ví dụ như: thân thuyền nên dài khoảng gấp 3 lần chiều cao người chèo, bề rộng của thuyền nên bằng bề rộng của vai cộng thêm khoảng từ 4 đến 8 ngón tay… Ấy thế nên mỗi người tự đóng cho mình chiếc thuyền phù hợp với cơ thể của chính mình, không có chiếc kayak nào giống chiếc kayak nào cả. Và thực sự, đến bây giờ, sau khi đã đóng 4 chiếc kayak, tôi mới có được cái cảm nhận rằng, cách đo lường như vậy có cái “lý” thâm sâu nội tại của nó!

 

 

hững chiếc kayak trước của tôi đều dài 18 feet, chèo khá nặng. Chiếc Serene – 2 gần đây nhất ngắn hơn 1 chút, gần 17 feet, tức là hơn 5.1m một chút, xấp chỉ 3 lần chiều cao của tôi (1.7m), và cảm giác chèo thuyền rất nhẹ nhàng, êm ái. Đã đến lúc, chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ về thiết kế thuyền chèo, nó không những phải phù hợp với những quy luật vật lý của tự nhiên, nào là thuỷ tĩnh học, nào là thuỷ động học, mà nó còn phải phù hợp với những quy luật tâm sinh lý của người chèo nó.

Nói theo kiểu của Kim Dung là người và thuyền hợp nhất! 🙂 Khả năng của chiếc kayak tới đâu, điều đó phụ thuộc lớn vào người chèo. Với những người chèo kayak chuyên nghiệp, một số giới hạn sau thường được biết đến: gió cấp 4 (Beaufort scale): chèo thoải mái, gió cấp 5: vẫn đi tốt, nhưng chậm, gió cấp 6: vẫn có thể cố gắng trong vài giờ, từ cấp 7 trở lên: nên ở trên bờ, không nên đi ra ngoài 🙂 ! Những giới hạn ấy, so ra vẫn là khá tốt (nhỉnh hơn) so với những dạng thuyền nhỏ khác như sailing dinghy.

Đó là những “giới hạn” chung chung cho những người chèo thuyền tương đối chuyên nghiệp, nhưng thực ra cũng chẳng có nghĩa lý gì với những ai đã thích phiêu lưu mạo hiểm. Những câu chuyện về chèo kayak trong gió cấp 8, 9, sóng biển cao trên 4m (nhưng phải là bước sóng dài) cũng không phải là quá hiếm gặp. Thêm một điều nữa, tuy gọi là sea kayak, nhưng thực ra luôn đi ven bờ (ngoại trừ 1 số ngoại lệ hiếm hoi), đơn giản vì người chèo cần chỗ để nghỉ ngơi sau một ngày dài chèo thuyền mệt mỏi.

Thiết nghĩ cũng không thừa nếu nhắc lại một điều rằng: với tất cả các loại tàu thuyền, kể cả tàu ngầm, từ 0.1 tấn cho đến 500,000 tấn, điều tối quan trọng để sống sót trong giông tố, đó là trọng tải giằng (ballast). Những chiếc kayak hay xuồng rowing nhỏ, nhìn có vẻ rất an toàn trên sóng nhỏ 0.5 ~ 0.7m, nhưng khi ra đến môi trường biển động, sóng cao từ 1m trở lên, nhất thiết phải có ballast, dưới dạng là nước uống đóng chai, đồ hộp hay các vật nặng khác lèn chặt vào đáy thuyền.

Như chiếc kayak của tôi, khi chất hàng đầy tải (thực sự là hơi quá tải 1 chút so với thiết kế), phần mạn khô chỉ còn độ 2, 3 cm. Nhưng như thế, con thuyền nổi lập lờ trong nước, sóng gió rất khó lật thuyền, nếu các nắp khoang chứa hàng kín nước, thì con thuyền không thể chìm được, vẫn cứ nổi lập lờ như thế mặc cho sóng tràn qua. Dĩ nhiên là rất rất hao sức để chèo con thuyền nặng đi về phía trước, nhưng nặng hay nhẹ không phải là điều bạn quan tâm khi đang ở giữa một cơn dông lớn!

 

 

ôi phải nhắc lại kỹ điều này, vì nhiều người mới chơi kayak không hiểu đúng vai trò của trọng tải giằng – ballast, họ không biết rằng muốn đi trong môi trường biến động phải có ballast, họ không vượt qua được điều đó, hoặc là họ bị tai nạn vài lần và bị một cái “dớp”, nên từ đó không (dám) vươn ra biển nữa. Bản thân tôi, tuy thừa hiểu điều này từ góc độ lý thuyết, nhưng cũng phải bị tai nạn vài lần, phải thử nhiều cách thì mới biết cách điều chỉnh con thuyền làm sao để ta có thể tự tin đi ra biển.

Một số ít loại surf ski thì dùng tốc độ và sự linh hoạt để lướt (surf) theo con sóng, do đó không cần, và không nên có ballast. Nhưng nên nhớ rằng đó là một sự cân bằng rất “động”, liên tục phải điều chỉnh để con thuyền không bị lật, và như thế cũng không thích hợp với cruising, vì chèo một con thuyền như thế có một tâm lý rất bất an, một sự bất an kéo dài. Và đằng nào thì cruising cũng phải đem theo nhiều vật dụng, đồ ăn, nước uống, lều trại… nên sắp xếp chúng làm sao để có thể tạo ballast tốt nhất.

Nên nhớ, kayak là một dạng thuyền rất nhỏ, rất “cá nhân”, rất “nhạy cảm”, cách phân bổ tải trọng trên thuyền rất quan trọng. Không giống một chiếc thuyền buồm to, ta không cần phải quá quan tâm đến việc vài chục kg hàng hoá nên để ở đâu. Tất cả cần nhiều thời gian để một người chèo nhận ra đâu là cách làm đúng, đâu là những loại thiết bị đúng. Đúng ở đây không phải là cái đúng vật lý phố quát, như đã nói trên, nó còn phải đúng với thói quen chèo thuyền, đúng với cơ địa sinh học của từng người.

Nhưng tại sao kayak lại nhỏ như thế, câu hỏi khác đi một chút: tại sao nó không thể lớn hơn!? Thử so sánh kayak với các rowing boat. Những ai ưa thích rowing sẽ nhận thấy đó là một trong những hình thức ưu việt nhất để đẩy con thuyền lên phía trước: lực chèo mạnh, có thể đẩy thuyền với tải trọng lớn, thực sự là ưu việt hơn hẳn paddling. Nhưng paddling có một vài ưu điểm so với rowing, thứ nhất là vị trí ngồi quay về trước, chả ai muốn đi du ngoạn sơn thuỷ mà ngồi quay mặt về phía sau cả.

Thứ hai là, vì mái chèo không tựa vào cọc, mà được cầm trên cả hai tay, nên có thể linh hoạt biến hoá, nhiều động tác chèo phức tạp, và dễ xoay xở trong điều kiện sóng to gió lớn. Trong sóng cao, mái chèo rất dài và thấp như của rowing xoay xở rất vướng víu và chậm chạp, một số trường hợp trở nên rất vụng về. Theo một số thống kê, nếu hoạt động ở mức cruising, sliding – seat rowing tiêu tốn khoảng 600 calories trong một giờ, so với chèo kayak chỉ chừng 350 calories trong cùng thời gian ấy!

 

 

on số calories chỉ là tương đối, nhưng để so sánh và để thấy rằng rowing có lợi thế hơn hẳn về lực chèo, và do đó, là khả năng chịu tải nặng. Nhưng đó nên hiểu là vận tốc đo trên một quãng thời gian không quá dài (một vài giờ). So sánh về quãng đường đi được trong một ngày dài 12 ~ 14 tiếng chèo thuyền thì rowing và paddling lại thường xấp xỉ ngang nhau, ấy là vì khả năng sản sinh năng lượng của cơ thể con người trong một ngày chèo dài cũng chỉ tới một mức ấy, sẽ đến giới hạn của nó.

Vậy thì loại thuyền nào cho paddling, hiển nhiên suy ra là các loại thuyền nhỏ, dài và hẹp, khi lực đẩy không cần phải quá lớn, đó chính là sea kayak, và đó cũng lý giải tại sao sea kayak lại có hình dạng thiết kế như thế, và phải vừa đúng như thế, không thể to hơn (hay nhỏ hơn) được. Và cũng chỉ có thể nằm trong một khoảng displacement nhỏ khoảng 120 ~ 180 kg như thế mà thôi. Mọi thứ cần thiết cho hành trình phải được khéo léo gói gọn trong khoảng tải trọng hữu ích nhỏ nhoi ấy.

Chính vì mức hao phí năng lượng thấp ấy, nên kayak phù hợp với những hành trình thật dài. Một hành trình dài không phải là một cuộc đua, bạn nên để dành sức lực cho những giờ chèo dài liên tục, hay cho những tình huống khó khăn giông tố dọc đường. Nói điều này nhiều người sẽ không ngờ đến: nhưng điều gì làm cho kayak có khả năng đi xa như thế, ấy chẳng qua là sự kiên định trì chí, cứ tiến lên phía trước, mỗi lúc một ít, dù vận tốc không được nhanh lắm, nó là thế thôi!

Những kiểu rowing canoe có lợi thế rất rõ ràng trong một cuộc đua ngắn một hay vài giờ, nhưng một hành trình thực tế kéo dài nhiều ngày sẽ đi qua nhiều vùng biển với điều kiện sóng gió khác nhau, nhiều dạng thời tiết khác nhau. Cái tâm lý của người chèo thuyền, ấy phải là: dù trong bất kỳ tình huống nào cũng phải tinh tấn bền bỉ tiến lên phía trước! Có những lúc, trong cơn giông mạnh, tôi chỉ chèo trung bình được khoảng 2 ~ 2.5 km/giờ, nhưng vẫn phải cố gắng suốt 4, 5 giờ liền như thế!

Sắp xếp cho một chuyến hành trình dài trên thuyền kayak, ấy là cả một “nghệ thuật”. Bạn cần phải tính toán những vật dụng nào hữu ích, ở mức tối thiểu cần thiết, sắp xếp làm sao cho gọn gàng nhất, nhẹ nhàng nhất, mà vẫn đáp ứng đủ như cầu sinh hoạt dọc đường, không thiếu cũng không dư điều gì. Đến một lúc nào đó, khi có nhiều kinh nghiệm hơn, tôi cũng sẽ cố gắng trình bày chi tiết về những cách chuẩn bị ấy, nhưng hiện tại, kinh nghiệm của tôi trong khoản này vẫn khá hạn chế!

 

 

ề cái sự nhỏ của chiếc xuồng kayak… đã có ai đọc tác phẩm văn học “Little women – Những người phụ nữ bé nhỏ” chưa nhỉ!? 🙂 Tôi thích những gì nhỏ nhắn, xinh xắn. Cụ thể hơn, một chiếc kayak không giống như những thuyền buồm khác, nó rất chi là “manageable”. Khi cần, bạn có thể vác xuồng lên vai đi một cách dễ dàng, không phải dùng xe đẩy lớn nhưng các loại xuồng to hơn. Ngay cả khi ở dưới sông, nếu thuyền bị lật, bạn cũng có thể bơi và đẩy nó vào bờ một cách nhanh chóng.

Ngay từ lúc khởi đầu đóng thuyền, trong đầu tôi đã vẽ ra những hành trình xa, chứ không chỉ là muốn đi loanh quanh gần. Đi xa ở Việt Nam có rất nhiều vấn đề rủi ro, nguy hiểm, cũng như có rất nhiều sự bất cập trong việc cứu hộ cứu nạn. Và cũng ngay từ đầu, tôi đã xác định là nếu có điều gì không hay xảy ra, thì tự cứu mình hầu như là phương cách duy nhất. Nếu vì một lý do nào đó mà thuyền không chèo được nữa, bạn vẫn có thể nằm sấp phía sau boong thuyền, dùng tay quạt nước đi như một tấm ván.

Ấy cũng là vì tôi không bao giờ muốn phải bỏ thuyền – abandon ship giữa biển, trừ khi chiếc xuồng gặp tai nạn, vỡ nát không thể nổi được nữa mà thôi. Công sức mình bỏ ra để thiết kế và đóng nó, không thể bỏ đi dễ dàng như thế được, mỗi chiếc xuồng dưới nước là một vật thân thiết, gắn bó, trên bờ, treo trên tường, là những vật trang trí rất đẹp cho ngôi nhà 🙂 . Yếu tố quan trọng nữa là chi phí và công sức để đóng những chiếc thuyền nhỏ cũng thường nhỏ, từ 120 đến 180 giờ công cho mỗi chiếc.

Nó không cần phải bỏ ra quá nhiều công sức, tiền bạc như một chiếc thuyền buồm. Và nếu có gì không đúng mà không sửa chữa được trong quá trình thiết kế và đóng thuyền, bạn hoàn toàn có thể thiết kế lại và đóng một chiếc mới. Mọi chuyện là một quá trình học tập, thử và sai, không có chuyện ngay từ đầu đóng là đã có được ngay chiếc thuyền phù hợp với mình. Nên ngay từ đầu, cũng đã biết đây là một cuộc chơi dài hơi, mỗi chiếc xuồng là một phiên bản với nhiều sửa đổi, cải tiến, nâng cấp!

Những cộng đồng chơi xuồng ở nước ngoài thường đông đảo, họ phát triển, thử nghiệm ý tưởng mới, tìm ra hướng đi đúng rất nhanh, họ có nhiều chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau để người đóng và chơi thuyền có thể tham khảo, học hỏi. Ở Việt Nam, chỉ có một mình tôi tự đóng và tự chơi thuyền, cái quá trình tự học ấy, “học phí” đắt không thể tả, có những cái “ngu” chỉ biết tự mình ôm lấy, không biết nói cùng ai, và cũng có nhiều cái “bớt ngu” chỉ đến sau nhiều tháng chèo thuyền tự mình trải nghiệm lấy!

 

 

ại nói thêm về cái sự nhỏ của thuyền kayak. Tôi vốn dĩ không phải là một người có sức khoẻ tốt gì cho lắm, cơ thể ngay từ lúc nhỏ đã có nhiều vấn đề với xương khớp và tim mạch. Khi lớn lên, những năm tháng làm việc trong ngành CNTT tàn phá sức khoẻ ghê gớm. Nên tự biết mình không bao giờ có thể so sánh được với một thằng Tây chèo thuyền trung bình, chứ chưa nói gì đến đẳng cấp vận động viên. Cũng chính vì lý do đó mà chèo thuyền kayak trở thành một bài tập thể dục cực kỳ ích lợi và hiệu quả!

Hai chiếc kayak đầu tiên, Hello World – 2Hello World – 3, được đóng theo mẫu thiết kế của nước ngoài. Chắc chắn đó là những thiết kế tốt, nhưng tôi phải nói rằng nó không phù hợp với thể lực của người Việt. Họ thiết kế cho những cơ thể cao từ 1.8m đến 1.9m, nặng từ 80 kg đến 100 kg. Đó là một sự thật, vì gần đây, ngay cả người phương Tây cũng đã bắt đầu chú ý hơn vào việc thiết kế những chiếc kayak cho những tạng người “nhỏ con, ốm yếu”, nặng chỉ trong khoảng 60 ~ 70 kg.

Những tay chèo “đẳng cấp” Âu Mỹ thường có thể chèo một ngày hơn 70 ~ 80 km trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Con số ấy nếu là người Việt Nam thì đa số chỉ có thể mơ ước mà thôi, với tôi 60 ~ 70 km một ngày cũng đã là một thử thách lớn. Nhưng tại sao phải đặt ra một cái mốc là 60, 70, 80… km!? Thế này nhé… đa số những hòn đảo xinh đẹp của Việt Nam đều nằm loanh quanh trong khoảng từ 30 cho đến 120 km xa bờ. Nếu bạn có ước mơ chèo tới đó, thì phải tìm ra một phương cách nào đó…

Tôi tin rằng nếu biết cách cố gắng, cố gắng đúng hướng, 120 km chưa hẳn đã là xa 🙂 . Phải đến khi quan sát thấy rằng, người Nhật Bản, họ dùng những chiếc kayak khá nhỏ, thon và dài hơn mới làm cho tôi nghĩ đến việc phải thay đổi thiết kế thuyền sao cho phù hợp với thể trạng, thể lực của mình. Thế là bắt đầu quá trình học thiết kế thuyền với phần mềm FreeShip. Đây là một phần mềm rất hay, tuy miễn phí nhưng theo tôi hoàn toàn có thể dùng để thiết kế thuyền lớn đến một vài trăm tấn!

Các tay chèo Tây phương, họ có thể duy trì vận tốc trung bình hơn 7 kmph suốt cả một ngày 8 ~ 10 tiếng, với tôi, con số 6.5 kmph đã là mơ ước. Họ có thể chèo liên tục 25, 30 tiếng không ngủ nghỉ, còn tôi trong lần chèo ngược nước từ Vũng Tàu về Sài Gòn, 16 tiếng đó còn hơn là cả một cực hình. Bắt tay vào việc thiết kế thuyền, định hướng chung là thiết kế một thân thuyền thon hơn, hẹp hơn, diện tích tiếp xúc với nước ít hơn, để giảm thiểu năng lượng hao phí lúc chèo, từ đó có thể đi nhanh hơn và đi xa hơn.

 

 

hon hơn, hẹp hơn dĩ nhiên là có cái giá của nó. Thuyền sẽ trở nên kém ổn định, và tải trọng hữu ích sẽ bị giảm xuống đáng kể. Hẹp đến bao nhiêu thì vừa, tôi tự đặt ra cho mình một con số, là chiều ngang bờ vai cộng thêm 2 ngón tay, chừng vào khoảng 44 ~ 45 cm. Nhưng như thế là tôi cũng đang đi rất sát bờ vực của nguy hiểm, vì hiện tại, những chiếc kayak hẹp nhất trên thế giới (không kể các loại chuyên dùng để đua) cũng chỉ loanh quanh ở mức ấy mà thôi, khó có thể hẹp hơn được nữa!

Rất nhiều tuần loay hoay với phần mềm FreeShip, tìm hiểu xem độ ổn định như thế nào là thoả đáng. Và đó là một quyết định liều lĩnh khi đóng Serene – 1 chiếc kayak đầu tiên tự thiết kế. Ngay cả khi bạn đã dùng phần mềm tính toán, chẳng có gì bảo đảm chiếc thuyền sẽ hoạt động như ý, nhất là trong tay một người thiết kế chẳng có tí kinh nghiệm nào. Nhưng kết quả thực tế tương đối khả quan, điều đó khiến tôi tự tin hẳn lên, dần dần mình có được cái hiểu biết sâu hơn về thuyền và thiết kế thuyền.

Ở đây cũng xin nói rõ, thiết kế một loại như kayak chỉ là trò trẻ con, không đáng là gì so với thiết kế các tàu thuỷ chuyên nghiệp, hai lĩnh vực ấy xa nhau như trời với đất. Nhưng cũng xin nói rõ là, phần mềm FreeShip hoàn toàn đủ để thiết kế các tàu thuyền giải trí cỡ nhỏ, mà theo tôi, hầu như bất kỳ ai nghiệp dư cũng đều có thể làm được sau vài tuần, vài tháng mày mò nghiên cứu. Điều quan trọng là bạn phải hiểu được ý nghĩa của các “độ đo” dùng trong tàu thuyền: Cp, Cb, Kmt, S, LCB, VCB, etc…

Đóng xong, khi xuống nước, chiếc Serene – 1 bất ổn định hơn là tôi nghĩ, phải mất nhiều tuần để tập chèo cho quen với cái không ổn định ấy. Đó là những ngày tháng mà sự “tự ti – tự nghi ngờ” lên đến tột đỉnh, phải chăng đây là một “lỗi thiết kế”, hay là vẫn nằm trong “dung sai” cho phép và chẳng qua là mình chưa quen với con thuyền mới, cách chèo mới mà thôi!? Phải mất một thời gian dài vài tháng, tôi mới tự trấn an được rằng mình đang đi đúng hướng, rằng “tất cả mọi chuyện vẫn đang ổn thoả”.

Thực tế, chiếc kayak Serene – 1 đã tự chứng tỏ được nó trong hành trình 9 ngày chèo qua 9 cửa sông Cửu Long, thuyền rất vững vàng trong sóng to gió lớn có những lúc đã cao hơn 1.5m (mặc dù khi gió êm nước lặng, “cô ấy” lại không “hành xử” được tốt như thế 🙂 , và thuyền vẫn còn một số khiếm khuyết khá hiển nhiên khác). Phải nói rằng tôi hết sức hài lòng với Serene -1, nó làm tôi nhìn những con sóng bạc đầu ở cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Định An… mà vẫn nhoẻn miệng cười 🙂 .

 

 

ến đây thì mọi người sẽ nhận ra rằng cái “cuộc chơi kayak” của tôi nó rất chi là “cá nhân”. Thuyền được thiết kế và đóng sao cho phù hợp với người chèo nhất, tôi dám chắc rằng những ai mới chơi kayak ngồi lên thuyền của tôi sẽ lật ngay lập tức. Ngoài kia có bao nhiêu dạng, kiểu thuyền kayak làm sẵn, một số của Pháp, một số từ Trung Quốc, nhưng tôi không chọn được chiếc nào, và thực ra trên thế giới, đa số người chèo kayak vẫn chọn mua một chiếc bán sẵn thay vì đóng một chiếc cho riêng mình.

Như đã nói, tôi hy sinh độ ổn định và tải trọng thuyền để làm sao có được một chiếc kayak chèo nhẹ nhàng, êm ái nhất, có khả năng đi thật dài và thật xa. Và cũng không có gì ngạc nhiên nếu các trang thiết bị trên thuyền của tôi từ mái chèo, khoang chống nước, bơm nước… cũng chẳng giống ai, cũng không theo một tiêu chuẩn nào cả. Tất cả là một quá trình lò mò, thử nghiệm, giữa một đống hỗn độn những ý tưởng, thiết kế… ấy, các bạn sẽ nhìn ra một điều nhất quán: đó là mục tiêu của hành trình.

Nhớ lại cách đây 4 năm khi bắt đầu thiết lập cái xưởng mộc để đóng thuyền, suy nghĩ trong đầu rất đơn giản: đóng một chiếc và chèo từ Sài Gòn đi Vũng Tàu chơi. Đóng xong thuyền, mua 3 ổ bánh mì, 3 chai nước, nhảy xuống và chèo thẳng một mạch hơn 60 km đi Vũng Tàu, đến nơi vẫn cảm thấy bình thường, khoẻ khoắn! Đôi khi cần phải bớt suy nghĩ đắn đo lại và hành động cụ thể! Thực hiện được mục tiêu ấy vài lần rồi, cảm thấy không có gì khó khăn nữa, bèn nghĩ đến những mục tiêu xa hơn khác.

Cái sự tập chèo của tôi, không cần phải đến mức khổ luyện như của các vận động viên chèo thuyền, nhưng cũng khá là đều đặn. Trung bình mỗi tuần tôi đi chèo kayak trên sông từ 2 đến 3 lần, mỗi lần từ 3 đến 5 tiếng. Ấy cũng là một kiểu tập thể dục nhẹ nhàng, xem như đi vãn cảnh, hóng mát, không có gì gọi là vận động nặng cả. Ngoài ra nên kết hợp thêm một ít những động tác thể dục tại chỗ, một ít những môn khác như tập tạ nhẹ, đạp xe đạp, các động tác vặn người và yoga cơ bản…

Nói về thiết kế và đóng thuyền, nói về sông về biển… nó quá bao la và rộng lớn. Phải có những mục tiêu cụ thể, những chặng đường cụ thể, có tiến độ rõ ràng, không nói chung chung được! Ai đó thử chèo thuyền trong nhiều ngày, nhiều mùa khác nhau trong năm sẽ hiểu cái khổ cảnh: lúc nắng như thiêu đốt, khi mưa dầm lạnh thấu xương, lúc gió thổi như điên như cuồng, .v.v. và trong đầu luôn phải có suy nghĩ là: mình nên chuẩn bị sẵn sàng cho tất cả những tình huống có thể xảy ra dọc đường!

 

 

ôi khi tôi cũng muốn nói sâu xa một chút, tới những khía cạnh “triết học” của chèo thuyền. Anh nói gì vậy, chèo thuyền cũng có “triết học” ư!? Nói cho đúng hơn, nó là một số vấn đề tâm lý học mang màu sắc gần gũi với nhà Phật. Giả sử có một vị đại gia, trong giây phút bốc đồng, “nhón tay làm phúc”, cho đi 10 tỷ để làm từ thiện. Và có một người khác, tuy không giàu có để giúp được gì nhiều cho người khó, nhưng luôn nhìn người khác bằng con mắt của sự quan tâm, cảm thông, đầy lòng trắc ẩn.

Dĩ nhiên là về mặt xã hội (social impact), vị đại gia kia tạo ra được một sự khác biệt, đặc biệt có ý nghĩa dưới con mắt người ngoài nhìn vào. Nhưng từ góc độ tâm lý học, nếu đại gia đó không làm điều đó bằng động cơ của lòng trắc ẩn thật sự (mà chỉ là vì sự bốc đồng, sự hám danh, sự bù trừ, hay một động cơ nào đó khác), thì mặc dù ông ấy có thể tạo ra một tác động nào đó lên xã hội, ông ấy chẳng gây được một “impact” gì cho tâm hồn của chính ông ta cả, đường đời càng dài thì điều ấy càng thể hiện rõ.

Phàm người ta làm bất kỳ hành động gì, thì cái động cơ căn bản cũng là vì chính mình, cái mục tiêu đầu tiên là thay đổi chính bản ngã của mình. Xã hội hiện đại đầy rẫy những con người với những “động cơ cao đẹp”, họ chỉ muốn tạo ra những hình ảnh trong mắt người khác, họ lải nhải những ngôn từ có cánh về đạo đức. Họ luôn quan tâm đến mọi người xung quanh, họ chỉ thiếu quan tâm đến… chính tâm hồn họ mà thôi, để cho nó nổi trôi, lạc lỏng vô vọng khi “đu bám” những điều nghe có vẻ cao đẹp ấy.

Nói nghe có vẻ không hợp lý lắm, nhưng trên một con đường dài như cuộc đời, tôi không quan tâm đến việc một người làm được gì cho xã hội hay cho người khác, chỉ quan tâm đến cách họ đối xử với tâm hồn mình như thế nào. Cái đó, nhìn vào bản chất một con người, anh không thể nào dối trá hay che giấu được. Vì bản ngã, chân tướng của mỗi con người là một con quái vật không dễ gì đương đầu với nó, cần phải có rất nhiều nỗ lực, cố gắng, cần sự tinh tấn, tu chính không mệt mỏi, không ngừng nghỉ.

Nhưng điều đó thì có liên quan gì đến việc chèo thuyền!? Chèo thuyền, nó chỉ là một bài tập, để một người thực hành cái tự quan tâm đến chính mình, thực sự cảm cái bồng bềnh của sóng, cái phiêu phỏng của gió, cái âm thầm của nước triều dâng, để cảm được những khó khăn của tự nhiên và nỗ lực của bản thân. Đó là một cơ hội để mỗi người tự nhìn vào mình, và biết rũ bỏ đi những “loại tốt đẹp giả cầy”, “những kiểu giá trị vớ vẩn, nhảm nhí” mà xã hội bao nhiêu năm qua đã tiêm nhiễm vào họ!

 

 

ại tiếp tục tản mạn với những suy nghĩ rời rạc, không hệ thống về kayak. Như đã đề cập trong các phần trước, do bản thân khái niệm “kayak” vốn dĩ không phải là chính xác, nhiều người đã đem vào đó rất nhiều loại thuyền khác nhau, nên có một khuynh hướng hiện đại là sử dụng một từ mới: qajaq, một phiên âm khác gốc từ thổ dân Inuit, Eskimo… từ này dùng để chỉ một loại thiết kế riêng biệt, dành riêng để thực hiện những chuyến đi biển nhiều ngày, để phân biệt nó với những loại “kayak” khác.

Một số thiết kế kayak được thiết kế chuyên biệt cho những vùng nước nhiều biến động như các đoạn ghềnh thác trên sông, hay các vùng sóng gần bờ, loại này được gọi là “white – water – kayak” (white water ám chỉ màu của sóng vỡ, sóng bờ – breaking waves), đặc điểm thân thuyền thường ngắn (dưới 12 feet), hơi rộng, được làm bằng vật liệu mềm dẻo để có thể chịu va đập. Một số thiết kế khác gọi là “surfski” với kiểu “open cockpit” – khoang ngồi mở đặc trưng, đây là loại chuyên dùng để surf.

Cả hai loại “white water” ấy đều phải hy sinh tải trọng để có được sự linh hoạt cần thiết trong môi trường biến động. Những chiếc kayak “địa hình” thường chỉ chở được đúng người chèo, không thêm gì khác. Những chiếc surfski phải nhẹ, luôn luôn tiến về phía trước để nước không ngập hoàn toàn vào khoang ngồi mở. Như thế có nghĩa là những kayak thuộc loại “white – water”, mặc dù hết sức phù hợp trong môi trường sóng biến động, lại không phù hợp với những hành trình dài hơi.

Sea – kayak, hay qajaq là loại kết hợp giữa “white water kayak” và “touring kayak”, nghĩa là vẫn có những khả năng nhất định để hoạt động trong môi trường biến động, nhưng cũng có đủ tải trọng để chứa được lương thực, thực phẩm, trang thiết bị, etc… cần thiết cho những hành trình dài. Touring kayak được thiết kế để mang lại tiện nghi cho người chèo không chuyên nghiệp trên những đoạn đường không quá dài. White – water kayak là một loại thể thao giải trí, mạo hiểm ngắn hạn, thường chỉ kéo dài vài giờ.

Còn qajaq (hay tên cũ là sea – kayak) đã dần dần được hình thành trong một định nghĩa tương đối chính xác, là loại thuyền dành cho những cuộc hành trình kéo dài nhiều ngày (thậm chí nhiều tuần, nhiều tháng), thường là đi ven bờ, qua một loạt những loại địa hình địa lý khác nhau, nhưng cũng có khi là những quãng vượt biển kéo dài cả trăm cây số… Cái định nghĩa của qajaq không phải chỉ nằm ở những thân thuyền dài và hẹp, giúp tiết kiệm sức lực khi chèo cắt, trượt qua những con sóng.

 

 

ái định nghĩa ấy dần dà bao gồm cả những kỹ thuật tự cứu hộ (self – rescue techniques) như brace (thuyền nghiêng), roll (thuyền lật) và wet – entry (kỹ thuật leo vào thuyền sau khi đã lật). Cái định nghĩa ấy dần dà bao gồm luôn cả trang thiết bị (ví dụ như thường có 2 mái chèo, 1 dùng chèo trong điều kiện bình thường, và 1 nhỏ hơn, gọi là storm – paddle, dùng để chèo trong dông bão). Như thế, định nghĩa của qajaq là một tập hợp bao gồm thiết kế thuyền, trang thiết bị và kỹ thuật vận hành.

Một bộ 3 đúng như thế, được thiết kế, phát triển và tinh lọc dần dần như một môn thể thao chuyên biệt, vì những trang thiết bị và kỹ thuật đó chỉ có thể áp dụng được đúng với thiết kế thuyền như thế, mà hầu như không thể áp dụng được trên những thiết kế kayak khác. Sự giải thích có thể dài dòng và khó hiểu, nhưng với những ai đã chịu khó chèo kayak đường dài trong một quãng thời gian nhất định đều dần dà sẽ nhận ra rằng, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại với nhau, hoàn hảo một cách tự nhiên.

Dường như rằng chúng (3 yếu tố nêu trên: thiết kế, kỹ thuật và trang thiết bị) được “sinh ra là để dành cho nhau”. Thật ra, đó là một quá trình tiến hoá, liên tục phát triển, đúc kết kinh nghiệm trong nhiều thập kỷ của cộng đồng chơi sea – kayak. Điểm khác biệt nằm ở chỗ, họ, những sea – kayaker vốn dĩ đã là những kẻ thích những cuộc “phiêu lưu nhỏ”, kéo dài nhiều ngày (hay nhiều tuần, nhiều tháng), đi qua những dạng hình bờ biển khác nhau, trải qua những biến động thời tiết khác nhau.

Nếm trải bởi chính bản thân họ, thường là không có ai khác, không có lực lượng hỗ trợ hay cứu hộ. Và cái cộng đồng sea – kayaer quốc tế ấy, nó thực sự đông đảo và năng động, họ luôn luôn nghĩ ra những kỹ thuật mới, đi kèm với nó là những trang thiết bị mới. Tại sao vậy!? Đơn giản bởi vì sea – kayak giúp cho những người bình thường, những kẻ chẳng có tài năng hay danh tiếng gì trong xã hội (như tôi) có cơ hội được trở thành một kẻ phiêu lưu, một loại adventure nho nhỏ, vừa sức mình, có kiểm soát.

Dù sao thì những phiêu lưu nho nhỏ ấy cũng tốt hơn ngàn lần, thay vì dành thời gian tán láo và chia sẻ “fake news” trên internet, ít nhất cũng là cơ hội để có thể làm 1 điều gì đó, tuy nhỏ nhoi nhưng có ý nghĩa với bản thân mình. Trong xã hội thông tin tràn ngập như bây giờ, sea – kayak giúp chuyển đổi vai trò của một cá nhân, từ “consumer” (kẻ “tiêu thụ”, “sử dụng” thông tin) trở thành “producer” (người sản xuất, tạo ra thông tin), ít ra cũng là một điều gì đó hữu ích, năng động và lành mạnh.

 

 

hững hành trình dài với kayak có thể là một điều gì đó rất đau đớn và đòi hỏi (painful and demanding). Hầu hết mọi người trong chúng ta đều không có khả năng trở thành một vận động viên chèo thuyền Olympic, nhưng có một khả năng rất khả quan là các vận động viên chèo Olympic chưa chắc đã có thể theo kịp chúng ta trong những cuộc hành trình kéo dài nhiều ngày. Phải chèo thuyền 12 ~ 16 tiếng một ngày (hay thậm chí còn hơn thế) có thể là một cuộc hành xác đau đớn kinh khủng.

Càng kinh khủng hơn nữa nếu phải rơi vào tình huống không thể dừng chèo, vì nếu dừng thì sẽ bị dòng nước hay gió đẩy ngược trở lại, cũng có nghĩa là những nỗ lực trước đó sẽ trở nên vô ích. Nó sẽ trở thành một cuộc đua ai chịu đựng đau đớn giỏi hơn ai, một cuộc đua mà những người bình thường như chúng ta lại có thể thắng được các vận động viên Olympic. Những tay chèo hàng đầu thế giới có thể chèo liên tục 25 ~ 30 tiếng mà chỉ dừng rất ít để ăn uống, và không hề được ngủ!

Sẽ mất khá nhiều thời gian tập luyện để có thể xem những thử thách như thế là việc bình thường. Trong những hành trình dài hơi đầu tiên, tôi đã đem theo vài viên sủi Efferagal codeine làm thuốc giảm đau, nhưng dần dà không còn phải dùng tới chúng nữa. Cũng cần phải nói rõ ràng rằng, đó không phải là một cuộc cạnh tranh, hơn thua với ai cả! Đơn giản chỉ có bạn, con thuyền và biển khơi rộng lớn, chẳng còn ai khác để trách móc, chẳng phải riêng điều đó đã rất tuyệt với sao!?

Và cũng chẳng có ai khác để nhờ vả, giúp đỡ hay nương tựa, cuối cùng, đó chỉ là cuộc chiến với chính bản thân mình, tìm cách vượt qua chính mình. Mỗi người có một sức chịu đựng riêng, một giới hạn riêng, chẳng tranh giành hơn thua với ai cả! Ngày hôm sau tốt hơn ngày hôm trước, có một chút gì đó khác biệt, tiến bộ. Một đôi khi, một số tình huống sẽ giống như là cỡi lên lưng cọp, bạn sẽ chẳng có một backup option hay plan B, hay một câu hỏi dạng what if I fail nào cả!

Những điều đó làm cho “sea – kayaking” khác với những bộ môn thể thao thuyền khác. Không tiện nghi, nhanh chóng như thuyền máy, không thanh lịch, tài khéo như thuyền buồm, không “hồi hộp nhưng ngắn ngủi” như chèo thuyền vượt thác, etc… Chèo kayak đường dài là một điều gì đó rất “đơn giản”, rất “cơ bản”, rất “nguyên thuỷ”… và cũng rất thú vị, cái tiến độ chậm rãi và đau đớn của nó sẽ khiến bạn có thừa đủ thời gian để hoà nhịp trở lại với thế giới sóng nước, với thiên nhiên xung quanh!