gold plated

ome where on the Cầu Hai lagoon, near Tư Hiền river mouth, Thừa Thiên Huế province, central of Việt Nam. Silhouette of a small bamboo – woven boat paddled by two man in a very scenic, gold – plated sunset.

xa – thư

oàng thành Huế, điện Thái Hoà, ngay bên dưới chiếc biển đề ba chữ “Thái Hoà điện” có khắc một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Tạm dịch: Đất nước ngàn năm văn hiến, Cơ đồ “xe và sách” vạn dặm, Từ sau họ Hồng Bàng dựng nước, Trời Nam lại thịnh trị như thời Đường, Ngu. Khái niệm “xa & thư” được sử dụng rất phổ biến trong văn thư chính trị cổ. Nhưng như thế nào là “xa & thư” – “xe và sách”!?

Xe (xa): dĩ nhiên ngày xưa là chiếc xe ngựa, dùng để chờ người, đồ vật, đồng thời cũng là chiếc chiến xa (chariot). Xem phim về thời cổ đại ở cả Đông lẫn Tây, cả ở La Mã lẫn Trung Quốc đều thấy một điểm chung là chiến xa phổ biến hơn chiến mã. Tại sao lại đi dùng một thứ phức tạp là xe ngựa, mà không đơn giản trực tiếp cỡi ngựa!? Có người lý luận một cách hoàn toàn sai lầm rằng văn minh nhân loại đã đi thụt lùi, từ việc sử dụng chiến xa thời cổ đại, sang dùng chiến mã thời trung đại.

Trong việc cỡi ngựa, phát minh quan trọng nhất là cái bàn đạp, đây được xem là một phát minh tuy đơn giản, nhưng làm thay đổi lịch sử nhân loại! Bộ yên cương, có thêm cái bàn đạp mới khiến kỵ sĩ có thể ngồi vững vàng trên lưng ngựa, điều khiển được ngựa một cách khéo léo, và quan trọng nhất là nhờ có cái bàn đạp mới có điểm tựa để sử dụng vũ khí: gươm, đao, thương… và nhất là có thể bắn cung một cách chính xác. Từ khi phát minh ra cái bàn đạp, nhân loại mới bỏ chiến xa mà dùng chiến mã.

Nhưng quay trở lại thời cổ đại, thì chiến xa vẫn phổ biến hơn là chiến mã, đơn giản là vì không có bàn đạp, kỵ sĩ chưa thể ngồi vững trên lưng ngựa. Thời cổ đại ở Trung Quốc, vua một nước nhỏ có thể có một ngàn cỗ xe, vua một nước lớn có thể có đến vạn cỗ xe. Chiến xa là thứ thể hiện sức mạnh và quyền lực của một vương triều. Người ta đánh giá sức mạnh của một vương quốc thông qua số chiến xa mà nước đó sở hữu, cũng giống như bây giờ chúng ta dùng các đại lượng GDP, GNP, etc… vậy.

Lại nó thêm về xe ở Trung Quốc, thời cổ đại, có hàng trăm vương quốc lớn, nhỏ, mỗi nước dùng một loại xe riêng, đóng theo những quy cách riêng: kích thước bánh xe, độ rộng trục bánh xe. Ở các cổng thành, người ta xây các trụ đá nhỏ làm vật cản, khiến cho xe của một nước có thể đi lọt qua cổng thành nước đó, mà qua nước khác lại không thể đi lọt. Việc mỗi quốc gia sử dụng “quy chuẩn” xe khác nhau thực ra là một cách phòng thủ, không cho xe đối phương đi vào nước mình quá dễ dàng.

Sách (thư): nếu như xe có hàng trăm quy chuẩn khác nhau, thì sách vở, chữ viết cũng vậy. Tuy đều là chữ tượng hình, nhưng mỗi nước lại có cách viết khác nhau, ví dụ cùng một chữ “kiếm” nhưng có đến hàng chục cách viết, tuỳ theo quốc gia, vùng miền. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc mới thống nhất tất cả các quy chuẩn: xe đóng theo cùng một kích cỡ, chữ viết theo cùng một lề thói, tất cả các đơn vị đo lường, các hình thức nghi lễ, áo mũ, âm nhạc cũng được thống nhất.

Cho nên có thể xem: Thư là kiến thức, Xa là kinh nghiệm, Thư là lý thuyết, Xa là thực hành, Thư là trừu tượng, Xa là hiện thực, Thư là tâm hồn, Xa là thể xác, Thư là tinh thần, Xa là vật chất, Thư là sức mạnh mềm, Xa là sức mạnh cứng… “Xa dữ thư – xe và sách” là hai mặt của một đồng xu, hai yếu tố chính yếu nhất để đại diện cho một nền văn minh. Chẳng phải xưa có câu: 读万卷书 行万里路 – Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – Sách: đọc ngàn chương, Đường: đi vạn dặm đó sao!?

text=车书&font=1&size=17&color=0000FF

cổ kính – tàn y

Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi!

ột bài thơ cổ, tương truyền là của Ôn Như hầu – Nguyễn Gia Thiều, theo thể Thất ngôn Đường luật, tác giả thương khóc người vợ đã mất, trong đó có hai câu luận rất “đắt”: Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi. Tác giả muốn đập vỡ kính (gương) ra, để tìm bóng người yêu từng soi trong đó, rồi đành xếp manh áo lại, để giữ chút hương xưa còn sót của người đã khuất. Cổ thi mà ngôn từ, ý tứ như thế quả thật là quá mới lạ, táo bạo và cũng rất lãng mạn. Dù lời văn nghe có vẻ xưa cũ, “thơ tình” như thế này, ngay cả thời hiện đại dễ gì sánh được!?

Nhạc của Phạm Duy, với tôi cũng giống như là “cổ kính” và “tàn y”! “Dân ca VN”, xem như là một thứ đã mất, một người đã khuất, không mấy ai còn biết bóng dáng thế nào! Âm nhạc của Phạm Duy cũng giống như “cổ kính” – chiếc gương còn lưu giữ lại bóng dáng của người đẹp, cũng giống như “tàn y” – manh áo cũ còn lưu lại chút hương thơm của giai nhân, âm nhạc Phạm Duy còn lưu lại phảng phất hình bóng dân ca Việt. Về sau, muốn tìm lại bản sắc, e rằng cũng phải làm những việc “đập kính – xếp áo”, tìm lại sự phản chiếu trong âm nhạc của Phạm Duy vậy!

Tình hoài hương – Thái Thanh
Tình ca – Thái Thanh
Cành hoa trắng – Quỳnh Giao
Quê nghèo – Quỳnh Giao
Nhớ người thương binh – Mai Hương
Nương chiều – Mai Hương
Thu chiến trường – Kim Tước
Dạ lai hương – Kim Tước
Chinh phụ ca – Hà Thanh
Các anh đi – Hà Thanh





50 ca khúc hà thanh

rong một số ca khúc (ví dụ như Nhạc sầu tương tư, Chinh phụ ca, Nụ cười sơn cước… toàn là những điệu dân ca phía Bắc) Hà Thanh hát dân ca một cách tự nhiên gần như là vô thức, không biết có phải một phần vì chất giọng Huế của bà hay vì điều gì khác!? Cái cảm âm, cái xử lý âm nhạc khéo léo của bà dường như là “vốn có”, không cần phải trãi qua quá trình học tập! Một giọng ca được đánh giá là gần gũi với đại chúng, không nặng về kỹ thuật, nhưng tự nhiên, dể nghe, dể thấm vào lòng người.

Ai lên xứ hoa đào
Ai ra xứ Huế
Ai về sông Tương
Anh đến thăm em một chiều mưa
Áo lụa vàng
Áo tím
Bến xuân
Biển nhớ
Bóng mát
Các anh đi
Câu hò bên bờ Hiền Lương
Chiều vàng
Chinh phụ ca
Cô nữ sinh Đồng Khánh
Đêm đông
Đêm tàn bến Ngự – 1969
Đêm tàn bến Ngự
Dứt đường tơ
Em đi chùa Hương
Giọt mưa thu
Gởi gió cho mây ngàn bay
Hải ngoại thương ca
Hẹn một ngày về
Khi đã yêu
Khối tình Trương Chi
Khúc hát thanh xuân
Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp
Khúc tình ca xứ Huế
Lời mẹ ru
Máu chảy về tim
Mấy dặm sơn khê
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Mưa rơi
Mùa thu Paris
Mùa xuân trên đỉnh bình yên
Người về
Nhạc sầu tương tư
Nhìn những mùa thu đi
Nhớ Huế
Nhớ một chiều xuân
Nhớ thương Hàn Mặc Tử
Nỗi niềm
Nụ cười sơn cước
Phố vắng em rồi
Quê hương
Suối mơ
Tà áo tím
Tà áo xanh
Thiên thai
Thơ ngây
Thủa ấy có em
Tiếng xưa
Tôi đi giữa hoàng hôn
Trả lại em yêu
Từ Đàm quê hương tôi


50 ca khúc kim tước

ôi không nghe Kim Tước nhiều, không đủ để có một nhận xét “xác tín” nào ngoại trừ vài lời chung chung về một chất giọng cổ điển, chuẩn mực. Thế nhưng ở một số bài mà ngay cả Thái Thanh, Quỳnh Giao… đều không cảm, không diễn đạt được thì Kim Tước lại thành công như Thu chiến trường, Hướng về Hà Nội, etc… (nhất là những bài mang âm hưởng “dân ca cổ”). Với tôi như vậy là đạt, cảm dân ca thì có đánh bằng piano, violon cũng thấy được, mà không cảm thì dẫu có chơi bằng bầu, nhị vẫn biết ngay!

Anh về một mùa trăng
Bến xuân xanh
Chiều bên giáo đường
Chiều đông
Chiều mưa nhớ bắc
Con chim lạc bạn
Còn một buổi chiều
Có xa cách mới biết mình thương nhớ
Dạ lai hương
Đêm màu hồng
Đêm ngắn tình dài
Dịu dàng
Đồng quê
Gió thoảng hương duyên
Giọt nắng bên thềm
Gió xa khơi
Hát cho đời vui
Hội nghị Diên Hồng
Hờn sóng gió
Hướng về Hà Nội
Không nhìn nhau lần cuối
Kiếp hoa
Lá rơi bên thềm
Kiếp hoa
Lời nhi nữ
Miên khúc
Mùa đông tuyết trắng
Ngàn năm mây bay
Mừng xuân
Ngày tái ngộ
Ngọc lan
Người về như bụi
Người về trên mây
Nhặt cánh sao rơi
Nhớ người xa vắng
Như là lòng tôi
Ôi quê xưa
Rồi ngày sẽ trôi qua
Sau luỹ tre xanh
Sóng lòng
Thầm ước một chiều
Thu ca
Thu chiến trường
Thuyền mơ
Tiếng dương cầm
Tiếng hát lênh đênh
Tiếng thời gian
Tiếng xưa
Tìm nhau
Tiếng thời gian
Tỉnh mặc nét ai cười
Toà miếu cổ
Trở về dĩ vãng
Vào mưa
Xa quê hương
Yêu và mơ
Ý nhạc chiều


100 ca khúc mai hương

ột chất giọng tự nhiên, nhẹ nhàng, trong sáng, không quá điêu luyện như Thái Thanh, cũng không quá sang trọng như Quỳnh Giao, nhưng cũng khó có thể kém hơn vị trí thứ 3 xếp sau 2 người vừa kể trên. Xem ra, gia đình họ Phạm Đình ấy sinh ra được 3 giọng ca nữ: Thái Thanh, Thái Hằng, Mai Hương (chưa kể những tài năng âm nhạc khác như Phạm Đình Chương, Phạm Đình Viêm, etc…) thực sự cũng đã là tập trung, hun đúc quá nhiều tinh khí tốt đẹp của đất trời vào cùng một nơi vậy!

Áng mây chiều
Ảo ảnh chiều thu
Ave Maria
Bài thơ mùa thu
Bâng khuâng
Bên bờ sông Seine
Bến đò xưa
Bến xuân
Bến xuân xanh
Biệt ly
Bóng chiều xưa
Buồn tàn thu
Cánh bằng lướt gió
Cánh hoa duyên kiếp
Chiều
Chiều cô thôn
Chiều tha hương
Chủ nhật buồn
Cô hái mơ
Dang dở
Đêm tàn bến Ngự
Đêm thu
Đẹp giấc mơ hoa
Đi chơi chùa Hương
Đoàn quân đi
Đón gió mới
Dòng sông xanh
Đường chiều
Đường về
Đường về miền Bắc
Dứt đường tơ
Em còn nhớ mùa xuân
Em lễ chùa này
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi người em gái
Hò chèo thuyền
Hồ Lãng Bạc
Hòn vọng phu 1
Hòn vọng phu 2
Hòn vọng phu 3
Hương thanh bình
Khúc hát sông Thao
Khúc nhạc dưới trăng
Khúc nhạc ly hương
Kiếp hoa
Lá đổ muôn chiều
Lá thu
Màu tím hoa sim
Mối tình xa xưa

Mơ mòng
Mộng ngày xanh
Một buổi chiều mơ
Một chiều đông
Mùa hoa nở
Ngày tái ngộ
Ngày trở lại
Ngày về
Ngày xưa
Ngày xưa Hoàng thị
Ngọc lan
Người về
Nhạc chiều
Nhạc sĩ trong chiều sương
Nhắn người chiến sĩ
Nhặt cánh sao rơi
Nhạt nắng
Nhớ bạn
Nhớ người thương binh
Nhớ trăng huyền xưa
Nụ tầm xuân
Sầu lữ thứ
Suối mơ
Tan tác
Thu
Thu cô liêu
Thú đau thương
Thu quyến rũ
Thu tàn
Thuyền mơ
Tiếng chuông chiều thu
Tiếng hát biên thuỳ
Tiếng hát quay tơ
Tiếng xưa
Tình nghèo
Tình nghệ sĩ
Tình quê hương
Tình vui
Trách người đi
Trăng sáng vườn chè
Trao lòng
Trở về dĩ vãng
Trở về mái nhà xưa
Trường ca sông Lô
Trương Chi
Từ giọng hát em
Vàng phai mấy lá
Vầng thơ sầu rụng
Xa quê




100 ca khúc quỳnh giao

hất giọng đẹp xếp ngay sau Thái Thanh, có lẽ là Quỳnh Giao, trong một số bản thu âm, thậm chí có phần còn ấn tượng hơn, có lẽ là nhờ kỹ thuật thu âm hiện đại. Và mặc dù đây đó, một số chỗ không hẳn là đã thực sự đạt đến mức tuyệt mỹ để có thể khiến cho ai ai cũng phải hài lòng, nhưng phải thừa nhận rằng Quỳnh Giao có một chất giọng sang trọng, tinh tế không sao tả xiết, phải chăng cũng là một chút dư âm, “vang bóng” cuối cùng mà dòng dõi Hoàng tộc Việt Nam còn lưu lại đến ngày nay!?

Áng mây chiều
Bạn cùng tôi
Bạn lòng
Bến xuân
Bướm hoa
Buồn tàn thu
Cành hoa trắng
Chán nản
Chiều đông
Chiều tím
Cho nhau
Cỏ hồng
Con đường cái quan
Còn gì nữa đâu
Còn thoáng chiêm bao
Cung đàn xưa
Cùng một kiếp hoa
Cửu Long giang
Dạ khúc
Dạ tâm khúc
Đêm màu hồng
Đêm xuân
Đôi mắt người Sơn Tây
Đừng xa nhau
Dưới giàn hoa cũ
Đường chiều lá rụng
Đường em đi
Em về hở em
Giọt nước mắt theo anh
Gởi áng mây hồng
Hình ảnh một buổi chiều
Hoài hương dạ khúc
Hoa mai
Hoàng hạc lâu
Hoa tiên
Hoa vàng mấy độ
Hoa xuân
Hướng về Hà Nội
Khúc ca mùa hè
Khúc nguyệt quỳnh
Làng tôi
Lời ru bú mớm nâng niu
Mộng du
Mộng ngày xanh
Một thủa yêu đàn
Mùa hoa phượng
Mùa thu Paris
Mưa trên phím ngà
Nếu một mai em sẽ qua đời
Nghìn trùng xa cách
Ngọc lan

Người đi qua đời tôi
Nguyệt ca
Nguyệt cầm
Nhạc sầu tương tư
Nhớ bạn
Những lời ru cuối
Nỗi buồn
Nước mắt rơi
Nụ tầm xuân
Phiền nhung gấm
Quán bên đường
Quê nghèo
Rồi em nằm võng đong đưa
Sao đêm
Sầu cỏ lá
Sinh nhật
Soi trong dòng mắt
Suối tóc
Tà áo Văn Quân
Tạ ơn đời
The last time
Thiên lý bên đồi vẫn ngát hương
Thiên thai
Thương tình ca
Thuyền viễn xứ
Tiếng chuông chiều thu
Tiếng đàn tôi
Tiếng dương cầm
Tiếng hát đồi sim
Tiếng hát lênh đênh
Tiếng hát với cung đàn
Tiếng sáo diều
Tìm một ánh sao
Tìm nhau
Tình cầm
Tình quê hương
Tình trăng
Tình tự mùa xuân
Tình yêu đã chết
Tôi nghe mình đã hư hao
Tôi ước mơ
Trên ngọn tình sầu
Trở về thôn cũ
Trường ca sông Lô
Trương Chi
Về đây nghe em
Về miền Trung
Viễn du
Vĩnh biệt
Xa quê hương
Xuân tha hương