thị dân ca – phần 2

hưng như thế nào mới gọi là “thị dân” và “thị dân ca”!? Một số người tự tạo cho mình cái vỏ bọc “thị dân” và trong chuyện đấy cũng có nhiều thứ hay ho thú vị. Phải có cái gì đấy “cũ kỹ”, “vintage”, vương bụi thời gian… thì mới có thể trở thành một… Saigonese, hay một… Hanoist được. Đầu tiên ví dụ như là một chiếc xế cổ, như là xe Vespa cổ. Cũng có lúc tôi muốn có một chiếc, nhưng nghĩ đến cảnh xe đạp không nổ, hư hỏng vặt, phải sửa chữa liên tục nên nản, bèn thôi không ham. Kế đến là thú chơi nhiếp ảnh, dày công sưu tập body, lens các kiểu, từ Lomo, Minolta cho đến Leica, etc… Với “nhiếp ảnh gia” loại “point & shoot” như tôi, không muốn đầu tư hay công phu gì, thì một chiếc Sony Nex 5 cũng đã là quá pro rồi.

Rồi thì gì nữa? Cũng đã có lúc tập tành đĩa thanmáy chơi đĩa nhạc, nhưng tôi không quá quan tâm đến các kiểu âm thanh mộc, analog bằng việc sưu tầm cho được những đĩa nhạc quý, hiếm, ví dụ như một số đĩa rất hiếm của Thái Thanh. Cái việc tập tành để trở thành “thị dân” ấy, nó công phu, nhiêu khê, nhiễu sự lắm, ví dụ như cà phê là phải loại này loại kia, phòng trà ATB dạo này có tiết mục gì mới, nhạc sống ở quán Acoustic tuần sau có điều gì lạ, etc… Kể ra để thấy con đường cố gắng trở thành thị dân của tôi “thất bại” hết tập này đến tập khác. Và cũng đúng thôi, tôi khó có thể trở thành thị dân được, vì chính xác là: cha tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn, lại trích dẫn Nguyễn Huy Thiệp đấy! 😀

Cách dẫn dắt câu chuyện của tôi nãy giờ có ai nhận ra điều gì không ổn không!? Thực ra thị dân là không vứt rác ra đường, xếp hàng không chen lấn, thị dân tức là đi đường không bia rượu, tuân thủ luật giao thông, khuya về không nẹt pô làm phiền hàng xóm… và rất rất nhiều chuyện khác. Chứ đâu có phải là xe Vespa cổ, máy ảnh đắt tiền này nọ!? Phải xin lỗi các bác có các thú chơi kể trên, vì chơi cái gì cho nghiêm chỉnh, công phu cũng đều đáng quý. Chỉ tại thời buổi bây giờ có nhiều kẻ mạo danh, bày vẽ, học đòi hình thức nên đôi khi cũng bức xúc một chút! Những điều về “thị dân” ấy kể cũng là hiển nhiên, còn những điều về “thị dân ca” thì khó diễn tả hơn một chút, nhưng cũng không phải là quá khó để hiểu!



thị dân ca – phần 1

hững năm loanh quanh 20 tuổi (nghĩa là rất nhiều năm trở về trước), tôi rất thích nghe nhạc rock. Nhưng rock là một khái niệm chung chung gồm đủ thứ loại hùm bà lằng trong đó, riêng tôi thì thích một số nhóm nhạc như Green Day, Red Hot Chili Peppers… những thứ đại loại như thế. Và cũng phải nói cho nó rõ ràng, trong cái nhìn của tôi, những thể loại như power metal… suốt ngày lảm nhảm về nhà vua, công chúa, hiệp sĩ giết rồng… so với các thể loại ngôn tình hay game võ hiệp hiện nay mà giới trẻ đang đọc, đang chơi… về tinh thần thì chúng có khác chó gì nhau!? Thế nên cũng gọi là nghe, thích rock, nhưng tôi nhìn 95% những đứa nghe rock khác như người ngoài hành tinh, chả liên quan gì đến nhau!

Nói thật là thích Green Day, Red Hot Chili Peppers lắm lắm. Tự nghĩ ra một cái thể loại gọi là… “thị dân ca” để miêu tả, phân loại những phong cách nhạc đó. Dĩ nhiên chỉ là một sự đặt tên mang tính cá nhân, không có gì là chính xác, nhưng trong cách hình dung của tôi, “thị dân ca” tức là… dân ca viết dành cho người thành thị. Nghĩa là vẫn mang dân ca trong âm hưởng, trong gốc rễ, nhưng không phải là nông thôn nữa rồi. Nhưng cũng không hoàn toàn là thành phố theo kiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Một nơi mà 4 thành viên của nhóm nhạc The Beatles có thể thản nhiên băng qua đường (là tôi nói cái bức ảnh nổi tiếng ấy đấy), mà không phải nhìn trước nhìn sau dè chừng xe tông. Đấy, đại loại là như thế!

Dĩ nhiên là tôi còn thích nhiều thể loại nhạc khác nữa, rock có, cổ điển có, dân ca có, phương Tây có, Đông phương có, Việt Nam có, trãi khắp từ thái cực “chỉ có tiết tấu” đến thái cực “chỉ có giai điệu”, có lời lẫn không lời, mỗi thứ một tí, etc… chuyện nghĩ cũng là bình thường. Một hôm, có một người con gái hỏi tôi: thế anh thích thể loại nhạc nào nhất?, đáp: nhiều lắm em à!, hỏi tiếp: nhưng phải có cái gì là nhất chứ!?, đáp: nhạc nó cũng giống như gái thế em à!, tiu nghỉu: thôi, vậy em hiểu rồi! 🙂 . Đấy đại khái cái tuổi trẻ với âm nhạc của tôi nó như thế, bao đồng, dông dài một chút để… làm cái mở bài cho bài viết dài hôm nay. Mà cũng chưa biết chính xác là sẽ viết cái gì về chủ đề “dân ca” và “thị dân ca”.



bắc hành, 2016, phần 50

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền, xin ghé bến hoang sơ.

ết thúc loạt 50 bài viết, cũng là 50 ngày đêm xuôi ngược của hành trình núi cao ta trông, đường rộng ta đi. Ban ngày thì đi đây đó ghi hình ảnh, ban đêm về ghi chép, rất nhiều tư liệu của riêng tôi về các vùng đất, con người khác nhau. Thực ra, những gì thấy trên blog này… chỉ là phần nổi của tảng băng, không đến 1/10 của những gì tôi ghi chép hàng ngày.

Khoảng 8000 km hành trình, đi rất chậm, trung bình mỗi ngày chỉ 180 km, đi chậm như thế thì mới có thời gian để ngó nghiêng, quan sát được. Cũng như bao hành trình khác, nhiều lúc mệt mỏi, có lúc chán nản, đôi khi bực mình với những chuyện xảy ra dọc đường… Chặng đường ta đã đi qua, hiếm hoi mới gặp đóa hoa thắm hồng, ngẩng đầu lên hỏi mênh mông…

Rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau đã trải qua, những “cổng trời” ở các vùng miền núi phía Bắc, những cung đường đèo chênh vênh, vắt vẻo, những địa danh lịch sử chỉ mới đọc qua sách báo, và những con người, như là “hoa thơm quả ngọt” của các vùng đất ấy. Những ngày rét đến gần 0 ℃, những chiều mưa tầm tã, những sớm mù sương phủ kín trời…

Đến hôm nay đường xuôi về biển, những khung cảnh tuyệt đẹp dọc hàng ngàn km bờ biển, cách duy nhất để thực sự trải nghiệm chúng một cách kỹ càng, “trên từng cây số” là phải đi bằng đường thuỷ. Chào năm mới 2016, nên nhớ 2016 là năm nhuận, thế có nghĩa là, tôi sẽ có thêm một ngày để vui sống, để đi chèo thuyền, để đùa giỡn cùng sóng nước! 🙂

bắc hành, 2016, phần 49

hong thả dạo quanh thành phố Quy Nhơn, đầm Thị Nại, ghềnh Ráng, rồi theo quốc lộ 1D bám sát biển đi thị xã Sông Cầu. Từ đây vào đến Khánh Hoà có rất nhiều đầm phá, vịnh biển: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, vũng Rô, ghềnh Đá Đĩa, vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, vịnh Cam Ranh… cảnh quan núi đèo, biển cả, cù lao… nhìn đến là thích mắt.

Những đầm phá ven biển thế này rất thích hợp nuôi trồng thuỷ hải sản, và người dân vùng này cũng dần dần sống khấm khá hơn nhờ các nghề đó. Đánh bắt xa bờ chỉ có tập trung ở những cảng lớn mà thôi. Thanh bình nhất là khung cảnh rất nhiều con thuyền nho nhỏ tụ tập về trong một vịnh biển, tất cả buông neo theo chiều gió, đậu san sát bên nhau.

Cuộc sống trong những xóm chài, so với ký ức xa xưa thời còn nhỏ của tôi, cũng chưa khác đi là mấy. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, những người đàn ông trở về trên những con thuyền nhỏ, bữa cơm, chai rượu, và phim chưởng Hồng Kông, phim tình cảm sướt mướt Đài Loan inh ỏi khắp xóm. Những người phụ nữ nếu không làm cá, làm mắm hay việc nhà…

Thì cũng tụ tập chơi bài, chơi tứ sắc, buôn chuyện… trong lúc chờ chồng và thuyền về. Thực ra cuộc sống cũng vẫn như thế, muốn khác chăng thì phải khác từ cái suy nghĩ của chính mình, bất giác nhớ lại một vài câu thơ cũ: đâu những đường con bước vạn đời, xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi, giữa dòng ngày tháng âm u đó, không đổi nhưng mà trôi cứ trôi…

bắc hành, 2016, phần 48

on đường Nam tiến tiếp tục đi qua những vùng một thời đã quen biết… Tất cả đang thay đổi với một tốc độ chóng mặt, những thị trấn, thị xã, thành phố mới liên tiếp mọc lên… Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn… bây giờ đều đã là những thành phố khá lớn. Cứ như thế này thì miền Trung cũng sẽ sớm đất chật người đông chẳng khác gì đồng bằng Bắc bộ.

Những con đường quen thuộc từng đi bây giờ chẳng thể nào nhận ra, cùng với tốc độ xây dựng, đô thị hoá, thì tôi cũng nhận thấy, con người cũng đang đổi thay nhanh chóng, cái “khoảng cách thế hệ” cứ thế mà tăng dần, xa dần. Nhiều khi tôi cũng không hiểu những người trẻ đương thời đang nghĩ gì trong đầu nữa, nhưng thôi, đó là chuyện của tụi nó!

Quy Nhơn, tức là… người về… uh thì người sắp về, hành trình đang đi vào những đoạn cuối 🙂 ! Từ đây trở vào Nam, cảm thấy không còn nhiều cảm hứng để chụp ảnh và viết bài nữa. Đi tức là để nhìn thấy và tiếp thu những điều mới lạ. Nhưng lúc này đây, tôi lại đang có cảm giác, đi là để thấy rằng, quê choa một dải, từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau…

Có biết bao nhiêu điều tươi đẹp, có những dân tộc, con người, những văn hoá không giống nhau. Đi là để xác nhận lại những điều trước kia ta đã biết, nhưng chưa được rõ ràng lắm. Nhưng đồng thời, đi cũng là để, nhìn thấy từ một góc độ nào đó, quê choa là một vùng đất chật chội, với rất nhiều vấn đề của riêng nó, và thực ra… ta cần điều gì đó rộng lớn hơn thế!

Chặng 48: Hội An ⇒ Tam Kỳ ⇒ Chu Lai ⇒ Quảng Ngãi ⇒ Mộ Đức ⇒ Đức Phổ ⇒ Tam Quan ⇒ An Nhơn ⇒ Quy Nhơn

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

Lạng Sơn, 2016

Bắc Ninh, 2016

Ninh Bình, 2016

Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành, 2016, phần 47

Neo buông sâu như những sợi tơ lòng,
Thuyền lớn nhỏ đều chứa đầy hy vọng.
Thuyền ra đi, bến đã động lòng thương,
Ai phăng neo vội vã để đoạn trường?

uốt dọc miền Trung, làng mộc Kim Bồng (xã Cẩm Kim, thành phố Hội An) ngày xưa từng là một trung tâm đóng ghe tàu danh tiếng. Hội An thì đã quá quen thuộc rồi, ghé qua lần này chỉ để biết rõ hơn về làng Kim Bồng, bây giờ đa số đã chuyển sang làm mộc gia dụng, gỗ trang trí, đi khắp cả làng đếm không đến chục chiếc thuyền lớn nhỏ đang đóng mới.

Đây rồi những hình thuyền trong giấc mơ tuổi nhỏ của tôi! Nhưng không chính xác là những thân thuyền truyền thống, thon dài để lợi sức gió, sức chèo như trước, bây giờ chỉ toàn xài máy. Cũng những hình thể đó, nhưng ngắn lại và mập ra để tăng tải trọng. Việc đóng hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm, không bản vẽ, không công thức, không khuôn mẫu nào cả!

Theo như chính người làng nói, thì giới thợ trẻ bây giờ chỉ làm mộc gia dụng, dể có việc, dể kiếm tiền. Đóng thuyền chỉ còn sót lại ít người tuổi trung niên trở lên, khó có đơn hàng, dù đơn hàng cũng thường lớn tiền hơn. Nhưng quan trọng là đóng thuyền cực khổ, đòi hỏi thể lực, kinh nghiệm, còn giới trẻ chỉ muốn công việc nhàn hạ, kiếm tiền nhanh chóng.

Lang thang khắp một vùng cửa Đại, hạ lưu sông Thu Bồn, đây đó vẫn còn có thể tìm thấy những mẫu hình thuyền theo đúng truyền thống, những hoài niệm xưa cũ… mấy ai là người hiểu và cảm được!? Quê choa một dải, từ cửa Hàn cho đến cửa Đại, từ núi Sơn Trà cho đến cù lao Chàm, đây đó vẫn luôn còn nhiều điều thú vị cho những ai để tâm tìm hiểu!

bắc hành, 2016, phần 46

ừ đây trở đi là những vùng đất đã quá quen thuộc, nhưng vẫn luôn có gì đó mới mẻ nếu chịu khó để tâm tìm tòi, quan sát. Dừng chân ghé thăm một xưởng đóng tàu ở gần cửa Thuận An, một con tàu đánh cá lớn đang được đóng, ván gỗ kiền kiền 5.5 phân. Sau một vài câu nói chuyện với ông chủ xưởng: rứa chú là người gốc Vinh Mỹ à!?, đúng là tài thiệt!

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi, hương âm vô cải mấn mao thôi!, đã bao nhiêu chục năm mà người ta vẫn nhận ra giọng nói. Câu chuyện tiếp diễn một hồi nữa, ông chủ xưởng hỏi: rứa trong làng chú họ chi!?, đáp: dạ, họ Trần, ổng phán: cái dòng nớ hắn thông minh ghê lắm!. Biết là những câu xã giao nhưng vẫn không khỏi mỉm cười trong bụng 🙂 .

Mà xã giao ở cái miền quê ni hắn dông dài, vòng vo, đưa đón kinh khủng lắm, nói tiếp vài câu rồi kiếm cớ từ biệt lên đường. Nhìn sơ qua về cách đóng những con tàu đánh cá theo cách cổ truyền, chủ yếu vẫn phải dựa nhiều vào sức bền vật liệu (kiền kiền là một loại gỗ nặng, chịu nước rất tốt), chứ chưa đạt được đến mức xây dựng nên độ bền cấu trúc!

Quê choa một dải, từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền, phá Tam Giang, đầm Thuỷ Tú, đầm Lập An, đầm Cầu Hai, từ núi Bạch Mã đến vịnh Chân Mây, cảnh quan đến thật là quyến rũ lòng người. Lặng đứng bên bờ cửa Tư Hiền, những chiếc thuyền nan bé tí một người chèo, và cái động tác mạnh mẽ, tự tin, an nhiên của họ giữa muôn trùng sóng to gió lớn cửa sông!

bắc hành, 2016, phần 45

hé thăm địa đạo Vịnh Mộc, Vĩnh Thạch, Vĩnh Linh. Điều đặc biệt là huyện Vĩnh Linh có nhiều xã là đất đỏ bazan (một số xã là đất cát), người dân trồng nhiều hồ tiêu, cao su… Cũng chính nhờ cái đất ấy nên địa đạo mới có thể hình thành được, đơn giản là với phương tiện thô sơ ngày trước, không thể đào hầm trong đất cát. Quy mô nhỏ hơn địa đạo Củ Chi nhiều…

Nhưng Vịnh Mốc có một vai trò khác biệt, là điểm gần với đảo Cồn Cỏ nhất, con đường tiếp tế cho đảo đi qua đây, thế nên Vịnh Mốc chịu sự đánh phá ác liệt. Toàn bộ cuộc sống ở đây ngày xưa được tổ chức dưới lòng đất, nhìn tổng thể như một pháo đài 3 tầng, ngầm trong một sườn đồi, hướng ra biển cả. Bức ảnh cô du kích Vịnh Mốc ai đó chụp đến là đẹp!

Hành trình tiếp tục đi ven biển, cửa Tùng (sông Bến Hải), cửa Việt (sông Thạch Hãn)… Biển Cửa Tùng, Cửa Việt rất đẹp, bắt đầu từ nơi đây trở vô Nam, con đường di dân của người Việt ngày xưa từ phía Bắc, bắt đầu chủ yếu bằng đường biển với ghe thuyền, chứ không phải trên bộ như các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh nữa. Đất miền Trung dài và hẹp vì như thế!

Người ta chỉ đi bằng ghe thuyền đến các vùng đất có thể cư trú được dọc theo bờ biển, rồi cứ thế tiếp tục xuôi về Nam, chứ không mở rộng ra về phía núi (phía Lào). Một lúc nào đó, cùng với chiếc kayak của mình, tôi sẽ rong chơi cho bằng hết tất cả những vụng biển, đầm phá, bãi bờ, sông nước này! Đến để thấy một nụ cười hồn nhiên thật quá là xinh! 🙂

Chặng 45: Vịnh Mốc ⇒ tt. Cửa Tùng ⇒ tt. Cửa Việt ⇒ tx. Quảng Trị ⇒ Hải Lăng ⇒ An Lỗ ⇒ Sịa ⇒ Bao Vinh ⇒ tp. Huế

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

Lạng Sơn, 2016

Bắc Ninh, 2016

Ninh Bình, 2016

Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành, 2016, phần 44

ừ Vũng Áng, băng qua đèo Ngang là vào đến địa phận tỉnh Quảng Bình, hoàn tất điều chưa làm được trong chuyến xuyên Việt năm ngoái, đó là ghé Vũng Chùa – Đảo Yến viếng thăm mộ phần đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khu vịnh nho nhỏ khuất gió, sóng vỗ rì rào, hòn đảo be bé xinh xinh, cát trắng nước trong, cây cối xanh tươi, cảnh quan yên tịnh vô cùng.

Mất nhiều thời gian ở cửa sông Gianh và nhất là cửa sông Nhật Lệ. Cửa Nhật Lệ có dáng dấp một thời yên bình nào đó đã qua, những con tàu lười biếng nằm đợi ngày ra biển. Bức hình thứ 3 dưới đây rất đặc biệt, nó chứa đựng đầy đủ hình ảnh của quá khứ và hiện tại. Phần hậu cảnh là những con tàu đánh cá lớn, đuôi vuông đóng theo kiểu đương thời.

Trong hai con tàu nằm ở tiền cảnh, chiếc bên phải hoàn toàn là truyền thống Việt Nam (với chút xíu thêm thắt), thiết kế kiểu double – ender: đầu và đuôi đều vát nhọn, để ý con mắt thuyền vẫn còn vẽ rõ ràng. Chiếc thứ hai bên trái là một dạng lai giữa truyền thống và hiện đại, thân tàu thon dài như các bậc tiền bối, nhưng đuôi vuông theo kiểu hiện nay.

Một cảm xúc rộn ràng khó tả khi chứng kiến hình ảnh này, giờ đây, một thân tàu truyền thống như thế rất khó gặp, chiếc như trong ảnh ít nhất phải trên 60, 70 năm tuổi. Nước sơn mới, hay những thêm thắt sau này (cabin, boong sau đuôi…) không dấu đi được cái thiết kế kinh điển Việt: sức chở yếu, nhưng linh hoạt, nhanh nhẹn, chịu đựng sóng to gió lớn!

Chặng 44: Vũng Áng ⇒ Vũng Chùa ⇒ tx. Ba Đồn ⇒ tt. Hoàn Lão ⇒ tp. Đồng Hới ⇒ tt. Hồ Xá ⇒ Vịnh Mốc

Bắc hành, 2016, phần 1

Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, 2016

Điện Biên, 2016

Lai Châu, 2016

Hà Giang, 2016

Cao Bằng, 2016

Lạng Sơn, 2016

Bắc Ninh, 2016

Ninh Bình, 2016

Bắc hành, 2016, phần 2

bắc hành, 2016, phần 43

ua một đêm, gió mùa đông bắc lại tràn về, nhiệt độ giảm còn 15 ~ 16 ℃, thời tiết mát lạnh dễ chịu. Đứng từ trên tầng cao nhất nhìn ra cửa sông Lam, không còn tĩnh lặng, mơ màng như ngày hôm qua nữa, sóng cửa sông lớn bạc trắng xoá đầu, biển là như thế đấy! Những con sóng cửa sông (tidal waves) như thế này rất nguy hiểm với ghe xuồng nhỏ!

Lang thang dọc bờ sông Lam, đoạn từ sát biển lên đến cầu Bến Thuỷ qua quốc lộ 1. Vùng này có chế độ nhật triều, trung bình mỗi ngày chỉ có một lần triều lên / xuống. Quan sát dọc bờ sông cho thấy thuỷ triều yếu, chênh lệch cao nhất / thấp nhất chỉ khoảng 1 ~ 1.5 m, không như vùng sông Sài Gòn, bán nhật triều, nhưng biên độ có thể lên đến 3 ~ 4 m.

Ghe tàu đánh cá khắp cả Việt Nam đều là loại đáy bằng, đáy tròn, nên ít phụ thuộc vào thuỷ triều lên xuống hơn các loại đáy sâu chuyên đi biển xa. Đến tận bây giờ, số liệu thuỷ triều ở các cảng Việt Nam vẫn chưa công bố (hay chưa có!?), việc tính thuỷ triều chỉ dựa vào các công thức lý thuyết chứ chưa có hiệu chỉnh thực tế theo số liệu đo đạc thực nghiệm!

Thiếu kiến thức và kỹ năng, thiếu trang thiết bị đi biển cần thiết, thì không một ngư dân nào, cho dù là lão luyện hay liều lĩnh đến đâu, lại có thể đi xa bờ được! Xa ở đây nên hiểu không phải chỉ vài ngàn cây số, phải 10 lần nhiều hơn thế! Đã đến lúc chúng ta nên thôi cái điệp khúc: dân ta cần cù chịu khó… mà hiểu đúng vai trò của kiến thức và công nghệ.