avt chúc xuân

AVT Chúc xuân 
Lữ Liên, Trường Huy, Hoàng Long

au đây là tiết mục chúc xuân của ban AVT tái lập tại hải ngoại. Thành phần cũ của ban chỉ còn duy nhất nhạc sĩ Lữ Liên, bổ sung thêm hai thành viên mới Trường Huy & Hoàng Long nhưng vẫn giữ cái tên AVT cũ. Hai thành viên cũ ở lại VN sau 75: Tuấn Đăng thì biệt tích, còn Vân Sơn nhảy xuống kênh Thị Nghè tự tử, nghệ sĩ hài kịch không chịu đựng nổi những bi kịch cuộc sống. Xin post ở đây tiết mục Chúc xuân, có thể xem video trên youtube hay nghe file âm thanh rời.

Nghe AVT thích thú nhất là ở chỗ ban nhạc sử dụng nhuần nhuyễn các làn điệu dân ca Bắc và Trung bộ (tuy vậy lại không có dân ca Nam bộ), diễn tấu thành thục các nhạc cụ dân tộc (đàn nhị, tỳ bà, đàn đoản…), cũng như sự kết hợp phong phú giữa nói, nói lối, ngâm thơ và hát… Ba người trên sân khấu thường giả giọng nói của ba miền Bắc, Trung, Nam, rất giống, rất thật, lại là loại giọng cũ chỉ còn nghe thấy được ở lớp người già cả.

Bản Chúc xuân này là bài bản cũ, có customize lại chút xíu, tuy vậy chẳng mấy chốc cũng đã lạc hậu so với cuộc sống nơi trời Tây, may ra đem về VN thì vẫn còn nhiều giá trị. Mới tháng 10 nhưng nghe AVT xong cảm giác như Tết sắp đến: năm mới, cuộc đời phây phây, năm mới gặp thời gặp may, năm mới bạc triệu tới tay, năm mới không phải kéo cày, năm mới cuộc đời lên hương, năm mới tràn đầy yêu thương, năm mới thần tài giúp ta, năm mới năm đẹp Thái Hòa…

khát vọng

text=渴望&font=1&size=17&color=0000aa
text=悠悠岁月欲说当年好困&font=2&size=17&color=555555
text=惑亦真亦幻难取舍悲欢&font=2&size=17&color=555555
text=离合都曾经有过这样执&font=2&size=17&color=555555
text=着究竟为什么漫漫人生&font=2&size=17&color=555555
text=路上下求索心中渴望&font=2&size=17&color=555555
text=真诚的生活谁能告诉我&font=2&size=17&color=555555
text=是对还是错问询南来北&font=2&size=17&color=555555
text=往的客恩怨忘却留下真&font=2&size=17&color=555555
text=情从头说相伴人间万家&font=2&size=17&color=555555
text=灯火故事未来共斟酌&font=2&size=17&color=555555

hát vọng: những ai thuộc thế hệ 7x có thể sẽ nhớ phim này, chiếu trên truyền hình VN đầu những năm 90. Không nằm trong số những phim TQ thành công nhất, nhưng 50 tập phim mang lại những tình tiết cảm động của những cảnh đời thời cách mạng văn hoá. Dù ở TQ hay VN, dù ít hay nhiều, chúng ta đã sống qua những tháng ngày như thế, những đày đoạ và thăng trầm, những điên rồ của lịch sử, và những hậu quả dai dẳng của nó… hãy nhớ để đừng bao giờ quên chúng! Cố sự bất đa, uyển như bình thường nhất đoạn ca: chuyện cũ chẳng nhiều, cũng bình thường như một khúc ca… Đã trải qua rồi, phải như thế nào đó mới nói được một lời như thế! Truyền hình VN thực hiện việc thuyết minh đã chuyển ngữ lời nhạc thành một đoản khúc thơ lục bát thật khó quên:

hoàng trọng

Lòng càng thổn thức, quên hết bao mối hận mà đi.
Yêu đương say đắm mà chi, xa xôi đem thú biệt ly.
Sầu nhớ đau thương làm chi!

(Khúc nhạc ly hương)

Nghìn thu áo tím - Thái Thanh 
Dừng bước giang hồ - Khánh Ly 

ừ nhỏ tôi đã nghe nhiều nhạc của Hoàng Trọng mà chưa hề biết tác giả là ai. Những ca khúc Khúc nhạc ly hương, Ngàn thu áo tím, Nhạc sầu tương tư, Gió mùa xuân tới, Tiến bước sang ngang, Đẹp giấc mơ hoa… đã gieo vào hồn tôi những dáng nhạc độc đáo, riêng biệt. Sau này, càng tìm hiểu, tôi càng được biết nhiều hơn về con người lao động nghệ thuật cần mẫn, nghiêm nhặt này.

Học nhạc, sáng tác và làm ban nhạc từ rất sớm, Hoàng Trọng là người có khả năng tổ chức, ông đã làm phòng trà Thiên Thai ở Nam Định từ rất sớm (1945). Trong chiến tranh, ông là trưởng ban quân nhạc Bảo Chính Đoàn (quân đội Pháp), đến năm 1954 thì di cư vào Nam. Ở Sài gòn, ông thành lập nhiều ban nhạc chơi cho các Đài phát thanh Sài gòn, Đài phát thanh Quân đội, Đài Truyền hình… nổi tiếng nhất là ban hợp xướng Tiếng tơ đồng (1967).

Ông sáng tác khoảng chừng 200 tác phẩm, phần nhiều là theo điệu tango, và nhiều nhạc cho phim ảnh. Hoàng Trọng còn nổi tiếng với tư cách là người chỉ huy dàn nhạc và người soạn nhiều phần hòa âm giá trị. Tuy đã rao là Hoàng Trọng – vua nhạc tango Việt Nam nhưng ở đây, mời các bạn nhớ lại người cố nhạc sĩ tài hoa này qua hai tác phẩm của ông, một theo điệu valse: Nghìn thu áo tím và một theo điệu pasodoble: Dừng bước giang hồ.

ngọc cẩm & nguyễn hữu thiết

Gạo trắng trăng thanh 
Ai đi ngoài sương gió 

ể về tình hình Tân nhạc tại miền Nam trước 1975 mà bỏ qua cặp vợ chồng song ca Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết thì quả là một thiếu sót. Người miền Nam bấy giờ rất mê nhạc, cải lương thì có Thanh Nga, tuồng cổ thì có Phùng Há, vọng cổ thì có cậu Út Trà Ôn… Tuy vậy lớp trẻ lại thích Tân nhạc hơn. Chính quái kiệt Trần văn Trạch là người cải tiến các show diễn. Ông đề nghị thêm phần biểu diễn Tân nhạc vào trước các buổi chiếu phim, về sau lại tổ chức các chương trình Đại nhạc hội. Cũng chính ông là người giới thiệu cặp “danh ca miền Trung” Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết trước công chúng Sài-gòn. Cặp danh ca này nổi tiếng với khán thính giả miền Nam từ đó, với các bản dân ca hay tình ca, trên các sân khấu nhạc hội hay qua làn sóng phát thanh. Những đĩa nhạc của họ bán chạy như tôm tươi và có sức lan tỏa rộng trong quần chúng nghe nhạc.

Với thế hệ cha mẹ tôi, nhạc và giọng ca Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết là điều gì gần gũi, rất “Vietnamese – native” như những món cơm hến, bún bò Huế. Thêm một chi tiết nữa là Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết chính là song thân của ca sĩ nổi tiếng Hồng Hạnh sau này. Mời các bạn thưởng thức hai giọng ca dân dã, tự nhiên mà truyền cảm này qua một bản “dân ca” Gạo trắng trăng thanh và một bản tình ca Ai đi ngoài sương gió (hai bài trong băng nhạc 18 tình khúc quê hương yêu dấu). Nhất là Gạo trắng trăng thanh là bản nhạc có mức độ phổ biến sâu rộng trong quần chúng thính giả, đến mức nó có một bản lời “chế” như sau: Ai đi qua trên cầu Bông, té xuống sông ướt cái quần nilông… 🙂

quái kiệt trần văn trạch

Cái đồng hồ tay 
Tai nạn tê-lê-phôn 
Chiều mưa biên giới 

ăm thế hệ nhà họ Trần: ông sơ Trần Quang Thọ là nhạc sĩ cung đình Huế, ông cố Trần Quang Diệm được gởi đi Huế học đàn tỳ bà và sau đó nổi tiếng khắp miền Nam với ngón đàn này, ông nội Trần Quang Triều nổi tiếng trong giới cổ nhạc với ngón đàn kìm. Phía bên ngoại thì có ông cậu 5 Nguyễn Tri Khương (cháu nội Nguyễn Tri Phương) chuyên về sáo, và cậu 4 là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca. Đến thế hệ thứ 4 thì có anh cả GS Trần văn Khê, người không cần phải nhắc đến thì ai cũng biết là ai, người con thứ là Trần văn Trạch, một quái kiệt độc nhất vô nhị của Tân nhạc Việt Nam.

Thế hệ thứ 5 của gia tộc này là TS âm nhạc Trần Quang Hải, người vẫn tiếp nối ông cha đóng góp cho nền cổ nhạc nước nhà. Trần văn Trạch được xem là hiện tượng độc nhất vô nhị trong làng Tân nhạc, chuyên sáng tác và biểu diễn nhạc hài, là nghệ sĩ hài “trí thức” duy nhất đương thời, hát tân nhạc, cổ nhạc, làm kịch, làm phim, tổ chức các chương trình Đại nhạc hội (bao gồm đầy đủ ca, vũ, nhạc, kịch, hài, tạp kỹ… trong một chương trình văn nghệ).

Lần đầu nghe Trần văn Trạch ca, tôi lập tức thích cái giọng ông, một giọng nói đặc sệt Nam bộ, tự nhiên, bình dân, không kiểu cách. Nó làm tôi nhớ đến “một thời đã xa”, khi mà những gì sáng tạo, mới mẻ đều khởi phát từ những gì tự nhiên bình thường nhất, không cần phải đi qua những lăng kính méo mó như thực trạng văn hóa, văn nghệ hiện tại. Bao nhiêu năm xây dựng XHCN đã làm suy đồi con người cũng như các nền tảng văn hóa nghệ thuật… Xin giới thiệu đến các bạn hai tác phẩm hài do nghệ sĩ Trần văn Trạch sáng tác và trình bày. Chúc các bạn những trận cười sảng khoái!

Tôi thường có cảm giác rằng những người hiểu sâu về sắc điệu thì không vướng chấp vào cái vỏ âm thanh bên ngoài và dể tiếp cận đến tầng âm nhạc. Đa số các ca sĩ hiện nay đều có những chất giọng vay mượn, không ai bằng lòng với cái âm sắc cha sinh mẹ đẻ của mình. Mời các bạn nghe Trần văn Trạch hát Chiều mưa biên giới, một ca khúc phổ biến trong giới bình dân ở miền Nam trước 1975, nghe để thấy được rằng giọng nói chúng ta bất kể nguồn gốc thế nào, tự nó đã là vốn thiên phú của chúng ta rồi, không cần phải học đòi gượng ép.

ban kích-động-nhạc avt

Lẳng lặng mà nghe họ chúc nhau,
Chúc nhau mạnh mẽ khỏe như trâu.
Chúc nhau tiền của giàu như nước,
Chúc đẻ vừa xong lại… có bầu.

(Chúc xuân – Lữ Liên – ban AVT)

Ba bà mẹ chồng (Phạm Duy Nhượng) 
Em tập vespa (Lữ Liên) 

rong các ban nhạc chơi theo trào lưu mới (nhạc Mỹ) ở miền Nam trước 75, có một ban rất đáng lưu ý gồm 3 thành viên: Anh Linh, Vân Sơn, Tuấn Đăng, do đó mà có cái tên AVT. AVT thường xuất hiện trong trang phục áo dài khăn đóng, chơi nhạc cụ Tây phương (guitar, trống…) hay nhạc cụ cổ truyền (đàn nhị, tỳ bà, đàn đoản…).

Được biết đến ban đầu với cái tên ban kích-động-nhạc AVT, về sau đổi thành Tam ca trào phúng AVT, AVT đã thu những đĩa riêng, và từ khi ở miền Nam bắt đầu có vô tuyến truyền hình, AVT thường xuất hiện trên các chương trình chúc xuân đầu năm.

Nhạc của AVT rất đặc biệt, vừa rất mới, vừa rất cũ: mới vì hòa âm “rặt” Mỹ, cũ vì phần nội dung rất chi Lý Toét và Xã Xệ. Không như các ban kích-động-nhạc đương thời đều làm nhạc Trẻ, AVT là ban nhạc duy nhất có chủ đề, nội dung rất chi đại chúng: trào phúng, khôi hài, mà với trình độ âm nhạc cao.

Mời các bạn điểm qua 2 tác phẩm tiêu biểu của AVT, chắc rằng ai cũng sẽ có những trận cười no nê với Ba bà mẹ chồng kể chuyện ba bà mẹ Bắc, Trung, Nam ngồi nói xấu những nàng dâu và Em tập Vespa, kể chuyện một anh chàng kèm một em “tập đi xe Vespa”. Chúc các bạn những trận cười thoải mái!

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau đầu trước đón đầu sau.
Phen này nhiều kẻ xây cao ốc,
Thiên hạ bao nhiêu đứa nhảy lầu.
(TKXuyen’s version)

mal

Mal - Christophe 
Cơn đau tình ái - Elvis Phương 

Lúc chúng ta rĩ rã nhạc Pháp thì Christophe làm album có bài Mal này với tựa đề Anh

hớ lúc nhỏ, lũ nhóc cấp 2 chúng tôi luôn nghĩ ra những trò tiêu khiển giết thời gian thú vị. Tôi còn nhớ một trong những trò đó là ngồi tìm ra những từ tiếng Việt gốc Pháp, chẳng hạn như cái ba-ri-e (barrière) là cái rào chắn, hay ra-đi-a-tơ (radiateur) là bộ phận tản nhiệt của xe máy… Mặc dù chưa hề biết tiếng Pháp, lũ nhóc chúng tôi vẫn cãi nhau, lục tìm từ điển để minh chứng cho những ví dụ của mình. Bạn cu Bông (Quang Khải) hẳn còn nhớ trò chơi này.

Bây giờ thì tôi tìm ra một từ khác: Mal, như trong tiếng Việt, khi người ta nói: cái thằng đó hơi bị man man. Vốn gốc chỉ có nghĩa là đau, bệnh, qua tiếng Việt từ đó đã phái sinh một nghĩa mới: đau bệnh theo kiểu thần kinh. Ảnh hưởng của văn hóa Pháp lên văn hóa Việt thật sâu đậm, tìm thấy khắp trong ngôn ngữ, ca từ, ca khúc! Đôi lúc lại có cảm giác rằng chúng ta tiếp thu văn hóa nước ngoài không hẳn là thiếu chọn lọc, nhưng vẫn quá ư dễ dãi. Đến tận những năm 70, khi văn hóa Mỹ đã lan tràn khắp miền Nam Việt Nam, các phòng trà Sài-gòn vẫn rỉ rả những ca khúc Pháp. Trong trào lưu hát nhạc Pháp lời Việt này, nhạc sĩ Phạm Duy đã đặt lời cho hàng loạt ca khúc Pháp, mà bài này là một đơn cử.

Rồi những ban nhạc rock đầu tiên của Sài-gòn (lúc ấy không gọi là nhạc rock mà gọi là kích-động-nhạc) vẫn tiếp tục lấy những cái tên Pháp, đặt lời theo kiểu Pháp nhưng làm nhạc theo lối Mỹ. Đúng là một loại tranh collage sinh động. Tôi sẽ còn trở lại với chủ đề những ban “kích-động-nhạc” đầu tiên của Sài-gòn trong một bài khác, những Elvis Phương, Lê Hựu Hà, Tuấn Ngọc, những Trần văn Trạch (em ruột Trần văn Khê), Lữ Liên (ban kích-động-nhạc AVT)… những cậu ấm Sài-gòn gốc “Bắc cầy” đã tiếp tục làm nên những trào lưu nhạc mới. Điều đáng lưu ý là trong những trào lưu này dần xuất hiện những loại nhạc giải trí, nhạc tuýt, lần đầu tiên văn nghệ ở VN bước ra khỏi “tháp ngà hàn lâm” để mang hơi thở đời thường của cuộc sống.

Mal, bài hát này thích đã lâu, lúc này lại đúng là lúc để hát: Mal, au fond du coeur, oui j’ai mal (Đau! Từ đáy trái tim ta buồn đau!). Bài gốc có phần hòa âm thật hay, đúng tông yêu thích của tôi, còn bài lời Việt chỉ để nghe tham khảo!

chanson de solveig

Khúc hát nàng Solveig - Lê Dung 
Chanson de Solveig - Edward Grieg 
Solveig's song - Sarah Brightman 

ốn âm nhạc cổ điển chẳng có được mấy bài, chỉ biết và thích được một đôi bài ngăn ngắn, đại loại như một số serenade, polonaise, nocture, overture… Nhưng đặc biệt thích Chanson de Solveig này, từ nhỏ đã nghe qua tiếng hát Lê Dung, mà không biết rằng từ trước ở miền Nam, nhạc sĩ Phạm Duy đã có đặt một lời Việt khác hay đến như vậy: Một lần người đưa tiễn nhau, như vẫn cầu lời hứa năm nào, đằm thắm cho vui lòng nhau… Cuộc đời từ trong chiếc nôi, đã quay về cùng với gió bụi, về chốn không tên xa xôi. Càng thêm yêu bản nhạc vì cái lời đẹp vậy.

Thường cần nghe nhạc không lời, dể nắm được dáng nhạc, xong rồi thì hát lời Phạm Duy vậy. Lời tiếng Anh, hát đến líu lưỡi mà vẫn không ăn được cách ngắt câu nhả chữ của nó! Cái giai điệu đẹp một cách giản đơn, như muốn tự giới hạn mình trong một cảm xúc hẹp và cô đọng, nghe như tiếng gió Bắc phương thổi qua những fiord buồn bã của xứ Scandinavi. Những tình khúc đẹp thế này vẫn thường được dùng làm bài ca vĩnh biệt, như cái ám danh tiếng Pháp của nó (Chanson de l’adieu) đã chỉ rõ!

trường ca Hòn vọng phu – 1

Đồng-đăng có phố Kỳ-lừa,
Có nàng Tô-thị họ vừa nung vôi.

(nhại ca dao)

Trường ca Hòn vọng phu (1, 2, 3) 
Thái Thanh và ban Thăng Long

Núi đá vôi “Hòn vọng phu” – Đồng-đăng, Kỳ-lừa, giống hệt một thiếu phụ ôm con đứng chờ chồng về. Ảnh lấy từ trang web http://phamduy.com

ừ lâu đã nhắc đến Trường ca Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương nhưng chưa post bản nhạc này một cách đầy đủ bao giờ. Đây là trường ca đầu tiên, báo hiệu bước trưởng thành của Tân nhạc. Bản nhạc được chia thành 3 phần. Phần 1: ngày ra đi: lệnh vua hành quân trống kêu dồn, quan với quân lên đường, đoàn ngựa xe cuối cùng, vừa ruổi theo lối sông… Phần 2: tâm tình người vợ ôm con chờ chồng về: trời đổ mưa trong tiết tháng ba, suốt năm nước nguồn tuôn đổ xuống Bà, hình hài người bế con nước chảy chan hòa… Phần 3: ngày người chinh phu trở về: chờ người con, chờ vợ đón, bao ước mong nét xưa hãy còn… Ba bài ca Hòn vọng phu là một ẩn dụ về những tâm tình biệt ly, đoàn tụ, về công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ.

Công cuộc Nam tiến ấy bắt đầu với việc gã Huyền Trần công chúa cho Chế Mân để đổi lấy châu Ô, châu Rí, với việc chúa Nguyễn vào Nam và gầy dựng nên đất Quảng-nam, rồi Sài-gòn, Gia-định, Đồng-nai, Hà-tiên… là những cuộc chiến tranh để thống nhất đất nước… Và cho đến tận bây giờ, công cuộc Nam tiến ấy vẫn chưa kết thúc, lớp lớp người miền Bắc, miền Trung chúng ta vẫn đổ vào Nam, sinh sống, lập nghiệp, gầy dựng nên kinh tế phía Nam giàu mạnh.

Hòn vọng phu là trường ca đầu tiên tóm tắt nên tâm sự, nỗi niềm của lớp lớp bao người dân Việt, đã khái quát cả một chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, một bài trường ca của xiết bao u hoài xen lẫn tự hào: tâm sự của người vợ ôm con chờ chồng đi mở mang bờ cõi đã bao năm chưa thấy về, và tâm sự của người chinh phu ra đi, bên thì nợ nước chưa đền, bên thì nợ tình thâm chưa trả.

phạm duy – 9

Khi còn bé, Mẹ bảo:
lớn lên đi lính, con sẽ làm tướng,
lớn lên đi tu, con sẽ làm giáo chủ.
Ông đã soạn nhạc và trở thành Phạm Duy!

(phỏng theo Picasso)



Cành hoa trắng - Thái Thanh 

ết thúc sêri 9 bài viết về nhạc sĩ PD này, có lẽ không thừa nếu nhắc lại rằng PD xứng đáng là nhạc sĩ vĩ đại nhất trong nền âm nhạc Việt Nam từ cổ chí kim, mà chưa một nhạc sĩ theo sau nào bén gót được. Không thừa khi hiện tại chỉ có khoảng vài chục ca khúc của ông là có trong danh sách những bản nhạc được phép lưu hành. Trong tình hình âm nhạc đã khá nghèo nàn hiện tại, việc cấm không phổ biến những ca khúc của ông là một tổn thất lớn cho công chúng yêu nhạc, khi họ chỉ được biết một Văn Cao chỉ với mười mấy ca khúc nổi bật, một Trịnh Công Sơn với rất nhiều ca khúc đáng yêu về ngôn từ nhưng không mấy phong phú về nhạc.

PD, tác giả một gia tài tạm gọi với cái tên Ngàn lời ca, là khoảng 1000 tác phẩm phong phú về âm nhạc, tân kỳ về ngôn từ, mang nhiều phong cách, nhiều mảng nội dung đa dạng khác nhau. Ngàn lời ca, đặc sắc nhất phải kể đến những bài “dân ca mới”, đem lại sự hồi sinh cho dân nhạc Việt Nam, không phải là những thứ “nhại dân ca” hay “tân cổ cưỡng duyên” như chúng ta có hiện nay. Đó là những bài nhạc hùng trong kháng chiến 9 năm, những bài tình ca quê hương tuyệt đẹp. Tiếp đến nữa là những bản nhạc tình bất hũ, nhiều bài chúng ta, vì đã nghe quá nhiều, quá quen tai: Cây đàn bỏ quên, Em bé quê… mà không biết đó là của ông, không biết chúng có giá trị như thế nào chăng? Đó là những bản du ca, tâm ca, tâm phẫn ca, đạo ca, rong ca, thiền ca, và những “bé ca”, những bài ca viết cho tuổi nhỏ… Đó là hai trường ca: Con đường cái quanMẹ Việt Nam, về sau tác giả còn có thêm một trường ca Hàn Mặc Tử. Đó là những tác phẩm Minh họa Kiều, Hương ca… sáng tác sau này.

Nhạc PD, với tôi không phải chỉ là những kỷ niệm âm nhạc lúc nhỏ, đó còn là một mảng khuất trong nền ca khúc VN không nhiều người biết đến giá trị. Nhạc PD là nơi tôi bắt đầu biết cách lắng nghe những giai điệu ngũ cung, những cái chính là bản chất con người Á Đông mình. Nhạc PD là ẩn dụ về những gia tài VN bị đánh mất, bị quên lãng vì những lý do chiến tranh, chính trị, xã hội… những lý do không đứng vững trước giá trị nghệ thuật trường cửu. Nhạc PD là ẩn dụ khác biệt, dằn vặt về những nghèo nàn và phong phú, tầm thường và sáng tạo, bao đồng và tinh tế…, cùng một lúc, trong tất cả những gì gọi là chúng ta, con người VN.

Để kết lại sêri viết về nhạc sĩ PD, mời các bạn nghe một ẩn dụ bằng âm nhạc khác, ca khúc Cành hoa trắng, ca khúc kể chuyện nàng tiên vì tình yêu, làm huyên náo Thiên đường mà bị đầy xuống trần gian lạnh lẽo.