Liberté, Égalité, Fraternité

hông mấy khi thích nói về các chủ đề chính trị, xã hội, nhưng hôm nay cũng có hứng cóp nhặt một vài suy nghĩ vụn vặt. Cái câu châm ngôn của Cộng hoà Pháp trên tựa đề bài viết ấy thường được dịch ra tiếng Việt là: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Trong cách dịch ấy, hai chữ đầu đã ổn, nhưng Fraternité mà dịch là Bác ái thì… hoàn toàn chưa ổn!

Có lẽ, tại thời điểm du nhập những chữ ấy vào Việt Nam, người dịch chưa có một hiểu biết, một khái niệm như thế nào là Fraternité trong xã hội phương Tây, nên dịch Bác ái là… quá rộng, quá mơ hồ, nếu không muốn nói là hoàn toàn sai so với bối cảnh văn hoá, tổ chức xã hội phương Tây đương thời. Dưới đây sẽ nói rõ hơn về điều đó.

Fraternité hiểu theo nghĩa đen, cơ bản nhất là tình huynh đệ, tình anh em trong một nhà, trong một hội đoàn cụ thể. Đơn giản nhất, những tổ chức đơn thuần mang tính thể thao như CLB Thuyền buồm, CLB Golf… có thể gọi là mang tính Fraternité. Từ góc độ nghề nghiệp: nông hội, công hội, thương hội… là những tổ chức mang tính Fraternité.

Trong xã hội phương Tây cách đây vài thế kỷ, khi mà mọi công việc được chuyên môn hoá cao độ, bất kỳ nghề nghiệp gì dù là nhỏ nhất cũng mang tính hội đoàn. Tiến lên một bước nữa, những tổ chức từ thiện, các hội tương tế, ái hữu, tập hợp những con người chia xẻ chung một quan điểm, một phương châm sống là những tổ chức mang tính Fraternité.

Ở một cấp độ cao hơn, các tổ chức lớn như hội Tam Điểm (Freemasonry), các Hiệp sĩ thánh chiến (Crusades), các đảng phái chính trị, etc… là những tổ chức mang tính Fraternité. Nói như thế để hiểu rằng, còn người ta hành động trước tiên là vì quyền lợi của mình, của anh em mình, rồi vì quyền lợi của đoàn thể, từ băng nhóm nhỏ cho đến tổ chức lớn.

Thậm chí, những tôn giáo lâu đời cũng phát triển, phân nhánh thành những tổ chức nhỏ hơn mang tính Fraternité: Thanh giáo (Purtians), Tin Lành (Protestant)… Xã hội được cấu thành từ rất nhiều những hội đoàn khác nhau về nghề nghiệp, về tôn chỉ giáo dục, đạo đức, về đức tin tôn giáo… tất cả đan xen vào nhau một cách rất phức tạp.

Và như thế, Fraternité từ một nghĩa hẹp, xưa cũ (là tình anh em, nghĩa huynh đệ trong một nhà), đã được mở rộng để ám chỉ về các phẩm chất (virtues), các nguyên tắc đạo đức (code of ethics), các luật lệ hành xử (code of conduct) cần thiết và áp đặt đối với các thành viên của một hội đoàn, một tổ chức, cho dù là lớn hay nhỏ.

Fraternité cũng không phải là Bác ái, một loại tình yêu chung chung hướng tới muôn người, muôn loài như kiểu nhà Phật. Mà là tình cảm và thái độ hướng tới những con người đồng hội đồng thuyền trong một cộng đồng, một tổ chức, có phương châm sống, có mục tiêu, có phương pháp hành động, có cương lĩnh, lý tưởng rõ ràng.

Khi châu Âu chuyển mình từ thời Trung Cổ, từ chế độ quân chủ, những “privilege system” – các hệ thống đặc quyền, sang những cơ cấu mới, những “by – virtue system”, những hệ thống XH dựa trên các thang giá trị, vậy thì những “virtue” ấy là gì? Nó gồm rất nhiều điều, nhưng được đại diện bằng 3 chữ: Liberté, Égalité, Fraternité nêu ra trên đây.

Hàng trăm năm trước khi thực sự có Liberté & Égalité, châu Âu đã miệt mài xây dựng Fraternité: những tổ chức bảo hiểm hằng hải (Lloyd, Veritas…), các hội Khoa học và Địa lý, những Y sỹ đoàn, Luật sư đoàn, các hiệp hội, nghiệp đoàn khác… Nếu Liberté & Égalité là chung chung trừu tượng thì Fraternité lại gần gũi, trực tiếp với những sinh hoạt kinh tế hàng ngày.

Hiển nhiên, XH VN đang là một “privilege system”. Nhưng đừng vội liên hệ “privilege system” với “nhóm lợi ích” và đổ toàn bộ lỗi cho chính quyền, chế độ. Chúng ta đã có một nông hội hiệu quả để chống lại thương lái Trung Quốc lũng đoạn chưa!? Chúng ta đã có những thương hội mạnh để cạnh tranh với khu vực hay chưa, hay là vẫn đang thua trên sân nhà!?

Chúng ta có thực sự có Fraternité trong các tổ chức, dù là tư nhân hay nhà nước hay chưa!? Hay vẫn tiểu xảo lừa gạt người khác để vụ lợi nhỏ trong mọi cơ hội có thể!? Ở cấp độ cá nhân, hay là mỗi người VN vẫn mang cái não trạng AQ: chúng ta sinh ra đã là đặc biệt, đã là hơn người, tự cho mình suy nghĩ và hành động xâm phạm đến Liberté & Égalité của người khác!?

Nên thực sự tôi cảm thấy khôi hài với một số người, ban ngày thì lên mạng hô hào tự do dân chủ, rồi tối về không làm gì khác ngoài việc lướt web xem hotgirl vú vếu, cạnh khoé người này người kia, nhảy vào những trang lá cải đọc các tin cướp, hiếp, giết, xem những truyện giật gân do một đám nhà báo bất lương bịa đặt và dẫn dắt. Thế là thế quái nào vậy!?

Chừng nào các bạn kiến tạo được Fraternité, rồi tiếp đó xây dựng nên Égalité, rồi sau đó mới có Liberté được! Đòi hỏi có được mọi thứ theo thứ tự ngược lại cũng giống như con nít đòi mặt trăng (mẹ ơi lấy nó xuống cho con) mà thôi! Chỉ riêng mỗi một chữ Fraternité vẫn còn xa, xa lắm, đi hàng trăm năm chưa biết có tới được hay không!?

seafarers – 7, Bernard Moitessier

e suis citoyen du plus beau pays du monde. Un pays aux lois dures mais simples cependant, qui ne triche jamais, immense et sans frontières, où la vie s’écoule au présent. Dans ce pays sans limite, dans ce pays de vent, de lumière et de paix il n’y a de grand chef que la mer.

 

ôi là công dân của một quốc gia đẹp nhất trên trái đất này. Xứ sở của những luật lệ cực kỳ khắc nghiệt nhưng giản đơn, không lừa dối bao giờ. Xứ sở mênh mông không có biên giới, nơi mọi điều sống trong chính hiện tại này! Đó là đất nước vô biên của gió, của ánh sáng, của bình yên nơi biển cả!

Phạm Hồng Thái

hân sự kiện chấn động xảy ra gần đây, thứ 6 ngày 13 vừa qua, tuy hoàn toàn chẳng có liên quan gì, và thực sự xem xét về bối cảnh lịch sử, về bản chất của hành động thì cũng không có gì là giống nhau. Cũng không có dụng ý sâu xa gì khác, chỉ là ghi lại ở đây một chút lịch sử bi tráng xa xưa chừng đã bị lãng quên, tưởng không mấy người còn biết đến!

Sống chết được như anh,
Thù giặc thương nước mình.
Sống làm quả bom nổ,
Chết như dòng nước xanh!

semper idem

Nằm đây, tưởng chuyện ngàn sau,
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan…

ột tựa đề quen quen thoáng hiện trên mặt báo, nghĩ mãi mà không nhớ ra, đành phải nhờ đến Mr. Google… Chỉ một phút, cả một trời ký ức hiện về, một tựa sách phiêu lưu viễn tưởng của Jules Verne từng thích thú thời còn bé tí: L’épave du Cynthia, tựa tiếng Anh: The waif of the Cynthia, tựa tiếng Việt: Chú bé thoát nạn đắm tàu. Thế là bỏ ra một nửa buổi tối ngồi đọc lại, từng câu chữ, từng đoạn văn lũ lượt kéo về trong trí nhớ, gần 30 năm mà tưởng đâu như mới ngày hôm qua.

Không khó cho một trí óc trưởng thành để phát hiện ra những chi tiết không logic, thiếu hợp lý và mạch lạc trong bố cục toàn bộ câu chuyện, và sau một hồi đọc lại, nhận ra truyện không hấp dẫn như những tác phẩm khác như: Đi tìm thuyền trưởng Grant, Bí mật đảo Lincoln, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Từ trái đất đến mặt trăng, Cuộc du hành vào lòng đất etc… của cùng một tác giả. Và từ lúc nhỏ, dù rất thích các tác phẩm của Jules Verne nhưng không thực sự là đến độ mê mệt.

Truyện tôi thích nhất của Jules Vernes có lẽ là Bí mật đảo Lincoln. Từ góc độ khoa học, truyện rất hay vì nó dạy cho học sinh cấp 2, 3 những vấn đề thực tế: làm sao để chế tạo xà phòng từ chất béo (như dầu dừa), làm sao kiểm soát hàm lượng carbon khi luyện quặng sắt thành thép, những bài toán lượng giác dùng trong đo đạc, định vị, etc… (tất cả những điều nêu trên đều có trong chương trình PTTH VN), nhưng dưới các hình thức sống động thay vì chỉ lảm nhảm những kiến thức chết như trong SGK.

Những câu chuyện của ông là sự xen lẫn của hai yếu tố: phiêu lưu và viễn tưởng. Nhưng thực sự tôi không thích viễn tưởng cho lắm, một con tàu phải có những cột buồm có thể trèo lên được, biển và mồ hôi phải có vị mặn, chèo thuyền trên những quãng đường dài thực sự là rất vất vả, gian nan… Chỉ thích những phiêu lưu có thật, cảm nhận hơi thở chân thật của cuộc sống, của sóng gió tự nhiên… Nó phải có gì giống như Moby Dick, một sự lãng mạn khắc kỷ mang màu sắc Puritan – Thanh giáo.

Semper Idem: câu châm ngôn (motto) tiếng Latin của nhân vật chính Erik, của gia đình Durrieu trong truyện, với nghĩa: trước sau như một.

Vẫn là một sự đáng tiếc thường thấy khi các thuật ngữ hằng hải, địa lý trong nguyên bản được dịch không chính xác hay không đầy đủ. Hơn nữa, bản dịch tiếng Việt (hầu như chắc chắn là được dịch lần 2 qua một bản tiếng Nga) đã lược bỏ nhiều tình tiết, làm giảm tính hấp dẫn của nguyên tác.

Lẽ dễ hiểu vì lối hành văn với rất nhiều chi tiết, nhiều cách diễn đạt tinh tế, nhiều logic phức tạp đan xen vào nhau thường nằm ngoài khả năng tiêu hoá cũng như khẩu vị của đa số độc giả Việt, những người thường chỉ muốn một cốt truyện ngắn gọn đơn giản có thể lĩnh hội chóng vánh!

holidays

ne autre vieille chanson Française de temps en temps, j’aime particulièrement des percusions, et aussi de guitar, dans un tempo très modéré… La mer comme une preface, avant le desert, que la mer est basse, holidays! Tant de ciel et tant de nuages, tu ne sais pas a ton age, toi que la vie lasse, que la mort est basse, holidays!

paroles

Des mots faciles, des mots fragiles, c’était trop beau.
Des mots magiques, des mots tactiques, qui sonnent faux, oui tellement faux.
Paroles et encore des paroles, que tu sèmes au vent!

– C’est étrange, je n’sais pas ce qui m’arrive ce soir. Je te regarde comme pour la première fois.

Encore des mots toujours des mots, les mêmes mots.

– Je n’sais plus comment te dire.

Rien que des mots.

– Mais tu es cette belle histoire d’amour, que je ne cesserai jamais de lire.

Des mots faciles, des mots fragiles, c’était trop beau.

– Tu es d’hier et de demain.

Bien trop beau.

– De toujours ma seule vérité.

Mais c’est fini le temps des rêves. Les souvenirs se fanent aussi quand on les oublie.

– Tu es comme le vent qui fait chanter les violons et emporte au loin le parfum des roses.

Caramels, bonbons et chocolats.

– Par moments, je ne te comprends pas.

Merci, pas pour moi, mais tu peux bien les offrir à une autre, qui aime le vent et le parfum des roses. Moi, les mots tendres enrobés de douceur se posent sur ma bouche mais jamais sur mon cœur.

– Une parole encore.

Paroles, paroles, paroles,

– Ecoute-moi.

Paroles, paroles, paroles,

– Je t’en prie.

Paroles, paroles, paroles,

– Je te jure.

Paroles, paroles, paroles, paroles, paroles et encore des paroles que tu sèmes au vent.

– Voilà mon destin te parler, te parler comme la première fois.

Encore des mots toujours des mots, les mêmes mots.

– Comme j’aimerais que tu me comprennes.

Rien que des mots.

– Que tu m’écoutes au moins une fois.

Des mots magiques, des mots tactiques, qui sonnent faux.

– Tu es mon rêve défendu.

Oui tellement faux.

– Mon seul tourment et mon unique espérance.

Rien ne t’arrête quand tu commences, si tu savais comme j’ai envie d’un peu de silence.

– Tu es pour moi, la seule musique qui fait danser les étoiles sur les dunes.

Caramels, bonbons et chocolats.

– Si tu n’existais pas déjà, je t’inventerais.

Merci pas pour moi, mais tu peux bien les offrir à une autre, qui aime les étoiles sur les dunes. Moi, les mots tendres enrobés de douceur se posent sur ma bouche mais jamais sur mon cœur.

– Encore un mot, juste une parole.

Paroles, paroles, paroles,

– Ecoute-moi.

Paroles, paroles, paroles,

– Je t’en prie.

Paroles, paroles, paroles,

– Je te jure.

Paroles, paroles, paroles, paroles, paroles et encore des paroles que tu sèmes au vent.

– Que tu es belle.

Paroles, paroles et paroles,

– Que tu es belle.

Paroles, paroles et paroles,

– Que tu es belle.

Paroles, paroles et paroles,

– Que tu es belle.

Paroles, paroles, paroles, paroles, paroles et encore des paroles, que tu sèmes au vent.

bambino

l ya toujours un sourire de plaisance sur mon visage en écoutant cette vieille (1956) chanson de Dalida. Et c’est deja très longtemps que nous étions comme ça, un(e) petit(e) Bambino / Bambina, naïvement (et profondément) tombé amoureuse… Regardez la vidéo pour voir la vraiment vivante, aimable Dalida… Je peux seulement dire: Ta musique est plus jolie que tout le ciel de l’Italie…

il pleut sur… sài gòn

Mais lui il s’en fout bien, mais lui il dort tranquille
Il n’a besoin de rien, il a trouvé son île
Une île de soleil et de vagues et de ciel…

ne vieille mais très très belle chanson sur les marins qui ne reviendras plus jamais, et sur les filles, les femmes, qui seraient toujours l’attendre: Les marins d’Amsterdam, s’mouchent plus dans les étoiles. La Marie qu’a des larmes a noyé un canal… Seules Titine et Madeleine croient qu’il est encore là, elles vont souvent l’attendre au tram 33… Peut-être un peu trop tôt, mais lui il est content, il n’a pas entendu que des milliers de voix, lui chantait “Jacky ne nous quitte pas!”…

Chez ces gens-là (Dalida, Jacques Brel etc…), on n’est jamais parti!

prepositive vs. postpositive

Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời
Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi…

ne miscellaneous linguistic notice, except for things borrowed from Chinese, which is largely unpopular to most people in daily, pragmatic uses, the Vietnamese language, in essence, is strictly postpositive, that is an adjective must be placed after a noun / pronoun that it modifies. So the following examples which are prepositive, are extremely rare, to the point of… bizzare, but they’re also very interesting, note the underlined, bold phrases. Add more examples to the list if you would find one! 🙂

Chuyện tình yêu – Ngọc Lan (nguyên tác: Histoire d’un amour) Đến bây giờ anh đã là cánh trắng chim bay xa chân trời. Đến bây giờ em đã là bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi

Khúc ca muôn thủa – Thái Thanh (nguyên tác: Granada) Rằng từ sau khóe mắt xanh bồ câu xâm chiếm tim anh, quên lãng sao đành

Rừng xưa đã khép – Khánh Ly Ta thấy em trong tiền kiếp, với cọng buồn cỏ khô.